Translated from/Phỏng dịch từ quyển sách: The Here & Now Meditation: A Quick and Effective Way to Overcome
Suffering. Publisher/NXB: Here & Now Publishing.
Copyright © 2004 Mimi Khuc and Thanh-Trieu Nguyen
ISBN: 0-9763491-4-0
Here & Now Publishing
Goleta, CA 93117
Email: info@hereandnowmeditation.com
Website: www.hereandnowmeditation.com
 

Mục Lục
Lời Cảm Ơn 7
Lời Tự Sự Của Một Thiền Sinh 9
Lời Gửi Đến Các Thiền Giả 11
Lời Nói Đầu 13
CHƯƠNG I: Giới Thiệu Về Cái Trí 17
Đồng Phạm Của Đau Khổ: Cái Trí 19
Sự Vận hành Của Cái Trí: 23
Cái Trí Không Chính Xác 23
Cái “Nên” Và “Không Nên” Của Cái Trí 26
Quá Khứ Và Tương Lai Vô Tận Của Trí 29
CHƯƠNG II: Ch́a Khóa “Tại và Hiện” 33
Khái Niệm Cơ Bản Về “Tại và Hiện” 34
Cách Dùng Pháp “Tại và Hiện” 36
Trải Nghiệm “Tại và Hiện” 38
Cấp Một: Nhập Vào Tĩnh Lặng 40
Thiền Ngồi 41
Thiền Ngủ 42
Dấu Hiệu Tĩnh Lặng Khi Thiền 43
Cấp Hai: Các Ứng Dụng Khác 44
Vào Tĩnh Lặng Sâu Hơn 44
Tĩnh Lặng Trong Lúc Cơ Thể Hoạt Động 45
Hóa Giải Các Cảm Xúc 45
Cấp Ba: Kết Hợp Thân, Tâm, Trí,
Quá Khứ và Hiện Tại 46
Khai Mở Trí Tuệ 46
Tu Dưỡng Ḷng Từ Bi 47
Hóa Giải Nghiệp LựcQuá Khứ 47
Hóa Giải Duyên NghiệpTiền Kiếp 47
Đặc Trưng Của Pháp “Tại và Hiện” 48
CHƯƠNG III: Thay Đổi Cách Nh́n 51
Lải Nhải Trong Đầu 53
“Phải” Và “Nên” 54
Muốn Hay Cần? 56
Sự Trói Buộc Của Dư Luận 56
Quá Khứ và Tương Lai 57
Phán Xét Về Tốt Xấu, Thiện Ác 58
Hạnh Phúc và Đau Khổ 59
Thay Đổi Người Khác 60
Thay Đổi Vị Trí 60
Tha Thứ 60
Thương Hại - Tội Nghiệp Ḿnh 61
Tử Biệt - Sinh Ly 61
Thước Đo Thành Công - Thất Bại 62
Tôn Giáo Gốc 63
Của Tôi Hay Hơn Của Anh 64
Thế À! 64
Quan Hệ Giữa Con Người 65
Tại Sao Chúng Ta Có Mặt Ở Đây? 65
Niềm Tin Vào Vũ Trụ 65
Nghiệp Quả 66
Vai Tṛ và Bài Học 66
Bài Học Ǵ Đây? 67
Yêu Thương Vô Điều Kiện 68
T́nh Yêu Và Nhu Cầu 69
Kinh Qua “Vạn Vật Đồng Nhất Thể” 69
Người Đàn Bà và Em Bé 70
CHƯƠNG IV: Tự Chữa Bệnh 73
Cách Tự Trị Bệnh Bằng “Tại và Hiện” 76
Những Quan Điểm Về Chữa Bệnh 77
CHƯƠNG V: Giăm Căng Thẳng Và Làm Chậm Tiến Tŕnh Lăo Hóa 79
CHƯƠNG VI: Phần Hỏi Đáp Cho Người Đă Có Nhiều Kinh Nghiệm Thiền 85
“Tại và Hiện” Dường Như Quá Đơn Giản? 85
Những Pháp Thiền Khác Sử Dụng Khái Niệm “Tại” Và “Hiện” 86
So SánhVới Pháp “Tỉnh Giác Chánh Niệm” 87
“Tại và Hiện”với “Vô Trí” Hay “Vô Niệm” 88
Xúc Giác và Tu Tập 89
Người Mới Tập Tu và Người Đă Tu Lâu 90
Tiến Đến Sự Giải Thoát Hoàn Toàn? 90
Đây Có Phải Là Phương Pháp Tốt Nhất? 91
CHƯƠNG VII: Hỏi Và Trả Lời 93
Ai Chủ Động Nói? 94
Cố Gắng Đạt Cho Được Sự Tĩnh Lặng 94
Không Suy Nghĩ Có Thoái Hóa Tâm Thức? 94
Tính Không Lời 95
Phối Hợp Với Các Pháp Thiền Khác? 95
Giảm Cảm Giác Trong Khi Thiền 96
Hơi Thở Giảm Nhẹ Trong Khi Thiền 96
Buồn Ngủ Trong Khi Tập Thiền 97
Sự Tĩnh Lặng và Trạng Thái “Xuất Thần” 97
Làm Sống Lại Cảm Xúc 98
Có Thể Xóa Kư Ức Vĩnh Viễn Không? 99
Tách Rời Cảm Xúc Ra Khỏi Quá Khứ 99
Thiền Để Tỏ T́nh Thương, Sự Tha Thứ 100
Cách Thay Đổi Quan Niệm 100
Cách Thay Đổi Tánh T́nh 101
Đối Phó Với Sự Cô Đơn 102
Ham Muốn và Đố Kỵ 103
Nỗi Đau Về Sự Im Lặng Của Người Khác 104
Thế Là Xong! Chấm Hết! 107
Tôi Đúng! - Anh Sai! 108
Trở Lại Với Cái Trí “Phàm” 108
Im Lặng, Lắng Nghe, Không Phản Ứng 109
B́nh An hay Thụ Động ? 111
Cái Trí và Xă Hội 112
Vai Tṛ Của Trí: Người Giải Quyết Rắc Rối 113
Ḷng Tự Ái Bị Thương Tổn 114
Cái Trí và Hành Động Tự Tử 115
Ḷng Từ Bi và Sự Đồng Cảm 115
Tu Là Ǵ ? 117
Quyền Không Muốn Tu 119
Tặng Quyển Sách Này Cho Người Khác 120
Áp Dụng Các Bài Học 121

CHƯƠNG VIII: Tóm Lược 123 Châm Ngôn Của “Tại Và Hiện” 

Lời Cảm Ơn

Không một tác giả nào thật sự là người tự viết ra toàn bộ nội dung một cuốn sách, nhất là một cuốn sách về tâm linh. Những kiến thức và minh triết trong quyển sách này là do chúng tôi tiếp nhận từ nhiều nguồn có vẻ như rời rạc nhau, nhưng khi nh́n lại những sự kiện liên hệ và những tiến tŕnh trong đời, chúng tôi cảm thấy ḿnh phải cúi đầu trân trọng trước một sự xếp đặt huyền bí và kỳ diệu đến thế. Do vậy, trước hết chúng tôi xin cúi đầu ghi ân sự xếp đặt này. Chúng tôi xin bày tỏ ḷng biết ơn sâu sắc đến các vị thầy tâm linh đă yêu thương, nhiệt t́nh giảng giải cho chúng tôi những minh triết, đôi khi pha lẫn nét hóm hỉnh gần gũi với đời thường. Giờ đây th́ các thầy có thể tự hào v́ quyển sách đă mang theo ánh đuốc mà các thầy đă nhọc công trao truyền.

Chúng tôi cũng tri ân những bằng hữu gần xa đă chia sẻ những kinh nghiệm và những minh triết tâm linh, cũng như ủng hộ, khuyến khích rất nhiều trong việc viết quyển sách này. Chúng tôi xin chân thành tri ân các tự   nguyện viên, những người đă nổ lực không mệt mỏi trong việc dịch cuốn sách nhỏ trước đây ra nhiều ngôn ngữ khác nhau và phân phối chúng trên khắp thế giới. Sự cống hiến và khích lệ của bạn bè là nguồn cảm hứng và động viên cho sự ra đời cuốn sách này.

Chúng tôi cũng mong muốn bày tỏ ḷng cảm ơn bạn bè và gia đ́nh đă ủng hộ chúng tôi. Mimi đặc biệt cám ơn Harry Yuen– v́ nếu không có sự ủng hộ lớn lao của anh đối với riêng cô th́ đă không có được thành tựu nhỏ nào trong những năm qua.

Cuối cùng chúng tôi xin chân thành cảm ơn những người đă hiệu đính bản thảo: Corinne S. Collins, Chân Tâm, Minh Châu, Thanh Lương, Elizabeth N. Zosso và tất cả những vị không muốn nhắc đến tên. Việc chuyển những khái niệm và thuật ngữ tâm linh sang ngôn ngữ đời thường là trọng tâm của cuốn sách này. Chúng tôi hy vọng nó sẽ dễ hiểu, dễ chấp nhận để có thể phục vụ cho nhiều người hơn.  

Lời Tự Sự Của Một Thiền Sinh

Như hầu hết mọi người, cá nhân tôi cũng đă trải qua bao nhiêu khó khăn trong đời. Nh́n lại, có những lúc dường như không một việc ǵ suông sẻ cả, mỗi hơi thở đều đầy ắp những hoang mang, tuyệt vọng và sự sợ hăi những vấn đề không thể tránh khỏi của cuộc đời. Trong đời tôi không chỉ một lần, tôi đă nghĩ rằng chỉ có cái chết mới có thể cứu tôi ra khỏi những đau khổ vô vọng đó.

Nếu bạn cũng đă trải qua tương tự th́ có lẽ bạn sẽ t́m được niềm an ủi to lớn qua lời nhắn gửi này. Tôi muốn nói với bạn về một liều “linh dược”. Chính món “linh dược” này đă cứu và giúp tôi t́m lại được sự ổn định về mặt tinh thần, sự lành mạnh về thân thể và cảm xúc. Nó cũng đă cho tôi an trú vào một nơi hết sức b́nh yên. Các thành phần của linh dược này dễ t́m và không tốn kém, chủ yếu là v́ chúng luôn có sẵn ngay trong mỗi chúng ta. Chỉ cần sử dụng một tiến tŕnh gọi là pháp thiền Tại và Hiện là có thể làm hiển hiện bản chất hằng hữu, chân   thật ngay trong ta: sự b́nh yên và an lạc. Từ đó, tôi đă thật sự t́m được nguồn vui sống. Từ tận đáy ḷng, tôi gửi đến các bạn lời tâm sự này và hy vọng rằng trong vài tháng sau, bạn cũng sẽ gửi đến những người khác những lời tương tự.

Một thiền sinh đầy biết ơn,

Nguyễn M. Châu  

Lời Gửi Đến Các Thiền Giả

Hầu hết mỗi pháp thiền đều có nhiều cấp độ thực hành khác nhau. Thông thường, bước khởi đầu hướng dẫn ta tập trung vào một đối tượng hay một hành động cụ thể nào đó để dừng suy nghĩ lại. Từ từ, ở các cấp thiền cao hơn, người hành thiền tập buông xả dần những ǵ c̣n trói buộc thân, tâm, ư của ḿnh. Rồi khi đến đích cuối cùng th́ cả ta lẫn đối tượng đều không c̣n nữa và trong ta cũng sẽ không c̣n một hành động, mục tiêu, một kết luận, sự mong cầu hay một cố gắng nào nữa.

Ở điểm cuối này, chỉ c̣n sự Tĩnh Lặng hoàn toàn, một trạng thái buông bỏ, an nhiên và b́nh yên tuyệt đối. Tương lai và quá khứ cũng như thời gian, không gian đều vắng bặt. Đến đây, ta đă siêu vượt được đau khổ. Thậm chí ta cũng đă vượt thoát khỏi chính bản thân ḿnh. Ta đă trở thành tự do.

Pháp Thiền trong quyển sách này giới thiệu một con đường tắt trực tiếp dẫn đến trạng thái Tĩnh Lặng vô biên kia. Bạn đi đến đích một cách nhanh chóng mà không cần trải qua từng cấp độ   hành thiền khác nhau. Hơn thế nữa, pháp thiền này chỉ cho bạn cách ứng dụng trạng thái Tĩnh Lặng sâu lắng này vào cuộc sống đời thường để bạn có thể sống một cách an lạc và thanh thản. Ở trạng thái Tĩnh Lặng, trong bạn sẽ không c̣n bạo lực hay đau khổ, thay vào đó là sự hoàn toàn thanh tịnh, hài ḥa, từ bi và hoan hỷ; một trạng thái thường được liên tưởng đến các khái niệm “Thiên Đường”, “Niết Bàn” và “Vũ Trụ Nhất Thể”.

Bạn hăy cầm lấy quyển sách này như nhận một thiệp mời đến dự một yến tiệc linh đ́nh nhất trong đời ḿnh. Nơi bàn tiệc, Vũ Trụ sẽ ban gởi cho bạn một tặng phẩm thiêng liêng: sự Tĩnh Lặng tuyệt đối mà từ nó Vũ Trụ đă h́nh thành một cách huyền diệu — một sự Tĩnh Lặng sâu thẩm trong bạn và trong chính nó.

Mùa Hạ 2003

Mimi Khuc & Thanh-Trieu Nguyen  

Lời Nói Đầu

Cuốn sách này lúc khởi đầu chỉ là vài trang phác thảo một phương pháp thiền đơn giản để giúp bạn bè có nhu cầu chữa trị tinh thần hay thể xác. Sau đó, những trang này đă được mở rộng thành một tập sách nhỏ. Tập sách nhỏ đó đă giúp một số người t́m được sự an b́nh nội tâm, hạnh phúc và hài ḥa trong cuộc sống. Tập sách nhỏ đă được nhân rộng và phát miễn phí và cũng đă được đưa lên mạng dưới dạng “sách nhỏ điện tử” (e-booklet) bằng năm thứ ngôn ngữ khác nhau: Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan và Việt Nam. Riêng bản in bằng tiếng Anh và Việt đă được các cá nhân và các tổ chức từ thiện phân phát sang các nước Châu Âu, Canada, Mỹ… với sự đón nhận nồng nhiệt. Cuốn sách lớn này, giờ đây chính là ấn bản mở rộng của cuốn sách nhỏ đó, được ấn hành để đáp ứng yêu cầu của bạn đọc mong muốn được hiểu rơ hơn một số lĩnh vực của phương pháp thiền này.

V́ muốn giữ nguyên ấn bản ngắn gọn như trước đây cũng như để đáp ứng những nhu cầu khác của bạn đọc chúng tôi đă chia cuốn sách thành tám chương. Để bạn đọc có được một nền tảng vững chắc, chúng tôi đề nghị bạn nên đọc trước Chương Một (giới thiệu), Chương Hai (pháp định tâm Tại   và Hiện) và Chương Ba (những cái nh́n mới) trước khi đọc các chương khác. Các Chương Bốn đến Bảy tương đối độc lập nên bạn có thể chọn tùy theo nhu cầu và sở thích.

CHƯƠNG MỘT: giới thiệu và giải thích khái quát về sự vận hành của cái trí và bản chất phiền năo của con người.

CHƯƠNG HAI: Phần này giải thích các khái niệm và kỹ thuật của phương pháp thiền Tại và Hiện. Tuy có ba cấp độ thực hành nhưng hầu hết mọi người đều có thể t́m thấy sự an lạc ngay cấp đầu tiên. Bạn nên thể nghiệm cả ba cấp để xem kỹ năng cấp nào thích hợp với bạn, giúp bạn đạt đến trạng thái an b́nh sâu lắng nhất.

CHƯƠNG BA: Phần này đưa ra một số cách nh́n mới giúp thoát ra khỏi phiền năo. Có người chỉ cần đọc phần này đă t́m được giải pháp mà không cần thực hành pháp thiền đề cập ở chương trước. Cũng có người thấy là họ cần phối hợp pháp thiền với những cách nh́n mới để đạt được hiệu quả lâu dài.

CHƯƠNG BỐN: Phần này thảo luận việc ứng dụng pháp thiền để chữa bệnh. Với pháp thiền này, bạn có thể cảm nhận sự giảm đau trong ṿng vài phút. Tuy phương pháp hiệu quả như vậy nhưng chúng tôi biết rằng nhiều thiền giả — đặc biệt những người đặt mục tiêu giác ngộ — thường không thích dùng thiền để chữa bệnh. Song pháp thiền này ảnh hưởng đến luôn cả tâm và thân nên ta có thể áp dụng nó một cách hiệu quả cho thân, tâm hoặc cả hai.  

CHƯƠNG NĂM: Phần này dẫn giải cách ứng dụng pháp thiền Tại và Hiện để thư giăn hoặc làm chậm đi sự lăo hóa của cơ thể.

CHƯƠNG SÁU: Phần này giải đáp những thắc mắc của các thiền sư theo pháp môn khác nhau và b́nh luận, đối chiếu các khái niệm và kỹ năng sâu hơn.

CHƯƠNG BẢY: Đây là phần hỏi đáp bao gồm các chủ đề: kỹ thuật của pháp thiền, những khái niệm cao, sâu hơn về cái trí, ứng dụng những cách nh́n mới vào đời sống, những gợi ư để tu dưỡng tinh thần và chuyển hóa cá nhân. V́ đề cập đến phạm vi rộng như vậy nên tại thời điểm đang đọc có thể bạn sẽ chỉ thấy sự hữu ích phần nào đó thôi. Chúng tôi cổ vũ việc đọc đi đọc lại v́ chúng tôi thấy rằng các ư nghĩa và thông điệp thường hay đến vào thời điểm thích hợp nhất của chúng. Việc đọc lại thường đem đến cho ta những hiểu biết tương quan và ư nghĩa mới.

CHƯƠNG TÁM: Phần này tóm lược những điểm chính trong cuốn sách cùng với một số bí quyết trong việc t́m thấy hạnh phúc bền lâu. Bạn đọc của sách này có thể là từ các quốc gia khác nhau, theo nhiều tôn giáo hay thậm chí là không theo một tôn giáo nào cả. V́ thế, chúng tôi cố gắng đáp ứng tất cả các nhu cầu của bạn đọc qua việc cân nhắc những khác biệt về phong tục, truyền thống và văn hóa. Để phục vụ được một cách chung nhất và tới được nhiều người mới tập thiền ở khắp nơi, chúng tôi chỉ dùng các khái niệm và thuật ngữ đơn giản. Chúng tôi sẽ không bàn luận đến quan điểm của tôn giáo hay trường phái tư tưởng nào cả.  

Trong quyển sách này, các so sánh mà chúng tôi đưa ra đều dựa trên điểm duy nhất là hiệu quả của mỗi phương pháp trong việc giải thoát khỏi đau khổ. Không một phương pháp hay tín điều nào đúng hơn – nó chỉ hữu hiệu hay hữu ích hơn đối với mục tiêu chính của chúng ta là chấm dứt khổ đau.

Trong sách này khái niệm “cái Trí” là ám chỉ đến cái trí nhận thức b́nh thường, tiếng Anh gọi là “mind” với chữ “m” viết thường, không phải như chữ Trí tuệ là “Mind” được viết M hoa.

Một vài điều cần bạn đọc chú ư: cuốn sách này kết hợp các khái niệm, thuật ngữ phương Đông và Tây nên đôi khi đ̣i hỏi nơi bạn đọc sự suy nghiệm về những ư niệm mới và khác biệt. V́ vậy, bạn hăy đọc với một tấm ḷng cởi mở, với một cái trí yên tĩnh - không đáp ứng theo nhu cầu cố hữu của trí là hay tranh luận, phê phán và so sánh. Và xin hăy đọc chậm răi. Thực chất của tập sách này không phải chỉ chứa đựng trong những chữ được viết ra thôi mà c̣n chứa cả trong sự thinh lặng phía sau những ngữ nghĩa đó. Khi đọc tập sách này, ngoài việc thu thập kiến thức qua ngơ trí, mong rằng ta c̣n t́m được những minh triết nào đó qua ngơ trái tim ta. Chúc các bạn thú vị trong việc đọc tập sách này!  

Chương Một

Giới Thiệu Về Cái Trí

Cuộc đối thoại dưới đây xảy ra trong một buổi tư vấn tâm linh giữa người cố vấn và một phụ nữ trẻ khoảng hơn 30 tuổi.

- Người cố vấn: Chào cô, tôi có thể giúp ǵ cho cô không?

- Người phụ nữ: Mọi việc trong đời tôi đều chẳng ra ǵ. Tôi cần giúp đỡ. Tôi cần một việc làm ổn định. Tôi cũng cần một chỗ ở tốt hơn v́ hiện nay tôi sống trong một pḥng trọ ở tầng hầm của nhà người ta. Tôi muốn mọi người trong gia đ́nh yêu thương tôi. Chồng tôi đă bỏ tôi. Tôi cần một người đàn ông đàng hoàng… một người chồng tốt… C̣n chiếc xe của tôi nữa, nó vẫn cứ hỏng hoài...

- Người cố vấn: Những điều cô vừa nói là cô cần, tôi thấy cũng không có ǵ quá đáng. Tôi nghĩ rằng ai trong chúng ta cũng muốn được như vậy… Nhưng cô có biết người nào có tất cả những thứ đó không?

- Người phụ nữ: Có chứ. Có một vài người bạn.

- Người cố vấn: Thế cô có thấy họ hạnh phúc không?

- Người phụ nữ: …Ơ.. ơ.. Chắc là không hẳn đâu.  

- Người cố vấn: Vậy cô có nghĩ rằng nếu như cô có đầy đủ những thứ đó, cô sẽ cảm thấy hạnh phúc vĩnh viễn không?

- Người phụ nữ: Có thể… thật ra là… không… Chắc là không hạnh phúc măi đâu.

- Người cố vấn: Nếu như cô không phiền, tôi xin phép nói ra quan điểm của cá nhân tôi. Tôi có thể sai nhưng cô cứ nghe thử xem. Tôi nghĩ rằng chúng ta xuất phát từ một cội nguồn yêu thương và an b́nh tuyệt đối. Có lẽ v́ thế mà khi bị tách rời khỏi nơi ấy, ḿnh luôn cảm thấy bơ vơ và thiếu thốn triền miên. Để đối phó với sự thiếu thốn, ḿnh bám víu vào t́nh thương của người thân như cha mẹ, người bạn đời, con cái, anh chị em, bạn bè… Cảm giác thiếu thốn cứ măi đeo đẳng nên ḿnh cố lấp đầy những khoảng trống ấy bằng tiền tài, công danh, sự nghiệp… Mỗi thứ đó đều có tác dụng nhưng chỉ một ít lâu sau là cảm giác thiếu thốn lại xuất hiện… Tôi không có chiếc đũa thần để cho cô những ǵ cô muốn nhưng tôi có thể chỉ cho cô phương cách để lấp đi sự thiếu thốn đó. Một khi trạng thái thiếu thốn kia được khỏa lắp đầy th́ không c̣n điều ǵ thành vấn đề nữa. Ḿnh có đạt được những thứ ḿnh mong th́ cũng tốt, không đạt cũng chẳng sao. Lúc ấy ḿnh đă t́m được b́nh yên trong nội tâm cũng như với thế giới bên ngoài. Khi chúng ta tách rời ra khỏi cội nguồn đầy đủ tuyệt đối kia, chúng ta đă tạo nên một trí thứ phụ, diễn đạt bằng chữ. Cái trí nguyên thủy th́ vốn dĩ vô ngôn và âm thầm; mọi nhận thức đều không có sự diễn giải, phân tích, so sánh, phán xét, suy luận… Mọi việc xảy ra đều chỉ có một trạng thái duy nhất: NHƯ LÀ, ĐANG LÀ. C̣n cái trí thứ phụ kia là trí mà tôi và cô hiện đang dùng. Nó lải nhải không ngừng về những   thứ đang làm chúng ta đau khổ. Một khi ḿnh học được cách làm thuần cái trí này th́ ḿnh có thể trở về với trạng thái của cái trí nguyên sơ. Chúng ta có thể siêu vượt được cái cảm giác thiếu thốn kia vĩnh viễn.

Bạn có muốn học cách làm này không?

Đồng Phạm Của Đau Khổ: Cái Trí

Một người đàn ông đang tản bộ qua khu phố đông đúc, sầm uất. Đám đông chen lấn ông khi ông cố len lỏi để quẹo ṿng một góc phố. Bực ḿnh, ông la lên: “Xin lỗi, cho tôi đi” và nhủ thầm: “Toàn là những người thô bỉ, ngu dốt…”, ông rảo bước nhanh hơn. “Cái đám người này làm tôi trễ nải hết công việc th́ tôi sẽ nổi xung thiên”. Đột nhiên, ông vấp ngă nhào. Ông trông lại th́ thấy một cái ghế bỏ lăn trước cửa quán cà phê. Ông nh́n vào quán la lên: “Này, đừng có mà bày biện bừa băi nhá! Choáng hết cả đường người ta đi thế này à?”. Ông lầm bầm trong trí: Thời buổi này thật chẳng có ai biết cách quán xuyến kinh doanh đàng hoàng cả. Ông đá lăn cái ghế qua một bên rồi tiếp tục đi và va ngay vào người thiếu nữ trẻ. Ông lớn tiếng nạt: “Đi đứng phải coi chừng người khác chứ!” Người thiếu nữ nh́n ông bằng ánh mắt thương xót, khẽ lắc đầu và nói: “Ông có vẻ đau khổ quá! Tôi giúp ông nhé?” Người đàn ông nh́n cô với vẻ hoang mang: “Đau khổ ư? Ai đau khổ? Tôi chỉ nổi nóng thôi!”

Mục đích của cuốn sách này là hướng dẫn một cách thức loại bỏ sự đau khổ. Muốn làm được điều này, trước tiên chúng ta cần phải định nghĩa cái mà chúng ta đặt tên là “đau khổ”. Theo văn hóa phương Tây chữ “đau khổ” (suffering) thường là có liên hệ đến những biến cố trầm trọng trong cuộc đời, những đau đớn và buồn bă. Do ảnh hưởng tư tưởng Ấn Độ giáo và Phật giáo, văn hóa phương Đông thường nh́n   sự “đau khổ” là một phần căn bản của cuộc đời - Đời là bể khổ. Định nghĩa trong sách này th́ “đau khổ” nằm ở giữa hai quan điểm trên. Ở đây, sự đau khổ dĩ nhiên là nói đến những cảm xúc như buồn phiền, đau đớn. Trong sách này, định nghĩa đau khổ được nới rộng để bao gồm tất cả những trạng thái cảm xúc nào đem đến phiền năo.

Theo như định nghĩa một cách đầy đủ như trên th́ đau khổ sẽ mang những ư nghĩa sau đây:

• Tất cả những cảm xúc nào KHÔNG PHẢI là hạnh phúc, là t́nh yêu thương, là hoan hỉ. (Thí dụ như: tức giận, ganh tỵ, buồn bă, sợ hăi, đau đớn, lo lắng, cay đắng, đau thương, tiếc thương, thù oán, căm ghét, khinh bỉ, cô đơn, v.v.)

• Tất cả các trạng thái nào KHÔNG PHẢI là an b́nh, đầy đủ, hài hoà. (Thí dụ như: bạo lực, cần nơi người khác đáp ứng (neediness), hoang mang, hoảng loạn, bối rối hồi hộp, trốn chạy, thiếu thốn,, tuyệt vọng, lo sợ, trầm cảm, v.v.)

• Tất cả hành động nào KHÔNG xuất phát từ thân ái (kindness), không bao dung hay không từ bi. (Thí dụ như sự kềm chế và áp đặt (controlling), phán xét, phê b́nh, nhục mạ, tấn công, ngược đăi, than phiền, cằn nhằn, hạ nhục v.v…)

V́ vậy, đau khổ không phải chỉ là những trạng thái và những cảm xúc tiêu cực mà c̣n luôn cả những hành động tiêu cực v́ những hành động này thường do những cảm xúc tiêu cực mang đến.

Với định nghĩa như trên th́ rơ ràng hầu hết chúng ta ai cũng đều đau khổ ở mức độ không ít th́ nhiều. Để giải quyết vấn nạn này, trước tiên chúng ta   cần phải hỏi xem cái ǵ thật sự là nguyên nhân gây ra đau khổ

Sau đây là một số lư do mà chúng ta thường nói. Tôi không hạnh phúc là bởi:

􀂃 Tôi không có được những ǵ tôi muốn hay tôi cần. 􀂃 Có người làm điều không tốt đối với tôi. 􀂃 Có người không làm cho tôi những việc mà đúng ra họ nên làm. 􀂃 Sự việc xảy ra không đúng như ư tôi muốn. 􀂃 Tôi luôn sống trong sự sợ hăi canh cánh là sẽ phải mất một người hay một vật nào đó. 􀂃 Tôi thất bại trong mọi việc tôi làm. 􀂃 Cuộc sống không có ư nghĩa ǵ cả. 􀂃 T́nh trạng sức khoẻ của tôi rất tồi tệ. 􀂃 Tôi đă mất tất cả người thân và tất cả mọi thứ. 􀂃 Những người trong đời tôi chẳng ai giữ được một tiêu chuẩn tối thiểu hay một khuôn phép nào tề chỉnh cả.

Dĩ nhiên những t́nh huống trên đây làm ta đau khổ; nghe th́ có vẻ rất hợp lư. Tuy nhiên, cũng có những người vẫn vui vẻ, hạnh phúc mặc dầu họ cũng đang ở trong nhiều t́nh huống kể trên. Vậy cái khác biệt giữa họ và chúng ta là cái ǵ? Câu trả lời: “Cái trạng thái của cái trí”. Một cái trí th́ yên lặng và một cái trí th́ nói liên tục — thường là những lời than phiền. Vậy th́ có khi nào bạn chợt ư thức rằng biết đâu bạn KHÔNG PHẢI là cái trí của bạn chăng? Khi bạn muốn yên b́nh và thanh tịnh, cái trí đó có chịu dừng sự cằn nhằn ồn ào của nó lại không? Phải chăng hầu hết là nó phớt lờ đi ư muốn được yên tịnh của bạn?  

Lần sau, khi nào một trong những ư niệm nêu trên xuất hiện, bạn hăy thử tách rời ḿnh ra khỏi cái trí và bảo nó: “yên lặng!” Hy vọng rằng nó sẽ nghe lời, chịu yên lặng hoặc nghĩ sang chuyện khác. Nếu nó chịu nghe lời, bạn hăy thử xem chừng bao lâu th́ nó sẽ len lén trở lại vấn đề cũ. Dường như chúng ta không hề làm chủ được cái trí của ḿnh. Nếu ai cũng điều khiển được cái trí tuân theo mệnh lệnh của ḿnh mọi lúc, mọi nơi th́ nó đă không c̣n nói liên miên những ư tưởng tạo nên phiền năo. Quyển sách này viết cho những ai chưa làm chủ được cái trí của ḿnh.

Các ư niệm trong quyển sách này dựa trên sự thức giác về hai chân lư dưới đây:

Thứ nhất nguồn gốc của hầu hết mọi đau khổ, phiền năo là chính từ sự hoạt động không b́nh thường của một bộ máy quan trọng và đặc biệt của con người: đó là cái trí.

Thứ hai cái trí cũng chỉ là một trong những bộ phận như tim, gan, mắt, mũi… v.v của con người. Nó không thể bị ngộ nhận là toàn thể cái ta được. Nghĩa là trí không phải là chính bản ngă của ta. Do vậy, ta không phải là những suy diễn hay những phản ứng của cái trí khi nó chủ động đẩy chúng ta đến những cảm xúc buồn phiền, đau đớn hay giận dữ.

Dựa vào hai nhận thức trên, chúng ta nhận ra được sự lầm lẫn khi đồng hóa cái “ta” với cái “trí” loạn động hoặc khi đồng hóa “ta” là những cảm xúc phiền năo: buồn, giận, căm thù…. Sự lầm lẫn này có thể dẫn ta đến những hành động có tính cách hủy hoại như tự tử, giết người, nghiện ngập, trả thù. v.v.

Quyển sách này sẽ hướng dẫn ta cách sửa được sự rối loạn trên và giúp ta phục hồi những chức năng cao cấp của cái trí như sự sáng tạo, phát minh và tỉnh   thức. Đọc xong quyển sách này, bạn sẽ hiểu được thêm về sự vận hành của cái trí và biết cách ứng phó với nó để ta có thể vượt qua những phiền năo và đau khổ vĩnh viễn vậy.

Sự Vận Hành Của Cái Trí

Cái Trí Không Chính Xác

Vấn đề được đề cập đầu tiên là tính thiếu chính xác của cái trí. Những cái gọi là “kiến thức” của cái trí thường này quả thật “không chính xác”. Dưới đây là ba thí dụ về những kết luận thiếu chính xác của nó: Thí dụ thứ nhất: khi mắt bạn nh́n thấy bạn gieo một hạt giống xuống đất, một thời gian ngắn sau, mắt lại thấy nơi đó mọc lên một cái cây, cái trí kết luận là “cây đó tôi trồng” và thậm chí c̣n đi xa hơn, quả quyết rằng “cây đó của tôi”. Nói thực tế th́ mắt chỉ nh́n thấy hai việc: Một là tay bạn gieo hạt giống, hai là tại chỗ ấy có một cây mọc. Chỉ thấy hai điều trên nhưng cái trí đă vội kết luận rằng hiện tượng thứ hai (cây) là kết quả của hiện tượng thứ nhất (gieo hạt giống).

Cái sai hoặc không chính xác ở đây là mắt không hề nh́n thấy nhiều yếu tố khác nữa đă tạo nên cái cây kia như: đất, nước, không khí, ánh nắng mặt trời, khoáng chất, phân bón v.v.

Nhưng nếu kết luận rằng “cái hạt giống là do tôi gieo và rồi nhờ đất, nước, mặt trời v.v. mà cây mọc lên” th́ cái kết luận của trí phàm này cũng vẫn không chính xác. Tại sao? Đó là bởi v́ mắt “thật sự” chỉ “thấy” việc gieo hạt giống và thấy có cây mọc lên mà thôi chứ có thấy ǵ khác đâu! Cái trí lấy kiến thức có sẵn từ “kho trí nhớ” (đất, nước, ánh sáng, v.v…) ráp chúng với các hiện tượng thấy - biết (gieo hạt và cây mọc lên) rồi đưa ra một kết luận. Tuy nhiên, nó đâu   biết rằng cái cây đó có thể là do một hạt giống khác hay do một người khác trồng hoặc do một ngàn lẻ một lư do khác th́ sao? Do đó, khi mắt nh́n thấy “A” rồi thấy tiếp theo là “B” th́ cũng chưa có ǵ chắc chắn “B” là kết quả của “A”. V́ vậy, cái trí chính xác là cái trí chỉ thấy - biết “A” là “A” và “B” là “B”, không tự động suy luận hay kết luận thêm ǵ nữa.

Thí dụ thứ hai: Khi vị thầy thuốc “chữa bệnh” xong, bệnh nhân hết bệnh. Cái trí của vị thầy thuốc kết luận: “tui chữa hết bệnh”. Cái trí đó có thể cũng không chính xác v́ biết đâu sau khi vị thầy thuốc “chữa bệnh” xong, rất có thể là muôn ngàn thứ khác như: thực phẩm, hơi thở điều ḥa, tinh thần thay đổi, tâm trí yên vui, duyên nghiệp đă dứt v.v... hợp với cái “chữa bệnh” kia đă làm cho bệnh nhân hết bệnh. Cái trí không hề nhận được những thông tin này. Giả như nó có nhận được đi nữa, nó vẫn tự động kết luận theo những cái biết sẵn có của nó. Cũng như khi thầy thuốc chữa mà bệnh nhân chết hoặc không hết bệnh th́ cũng không thể kết luận là do thầy thuốc tồi quá hoặc kết luận là thuốc dở quá.

Thí dụ thứ ba: Vợ chồng giao hợp, sau chín tháng sinh ra một “con người” nhỏ xíu. Cái trí kết luận rằng: “Con người đó tôi tạo nên, nó là con của tôi và nó thuộc về tôi”. Trí kết luận như thế mặc dù nó không biết rằng có thể c̣n có những nhân duyên nào hoặc lực nào khác đă đưa cái “sinh linh” kia vào cuộc đời này?

Trong ba thí dụ trên, cho dù cái trí có dùng những kiến thức cất chứa sẵn để kết luận khác đi th́ cũng vẫn không chính xác v́ cái trí luôn bị giới hạn trong cái “biết” của nó. Trong cái giới hạn quan sát, nó có   thói quen diễn giải, lư luận và đem những “kiến thức” cũ lắp vào các khoảng trống của hiểu biết rồi kết luận. Khái niệm trên có thể áp dụng cho cả hữu h́nh lẫn vô h́nh. Khi người có khả năng “nh́n” thấy một h́nh ảnh trong cơi vô h́nh hoặc “nh́n thấy” được tiền kiếp của một người rồi đi đến một kết luận nào đó, mức độ chính xác vẫn c̣n tùy vào quá tŕnh nhận biết và đi đến kết luận của trí lúc đó.

Một cái trí chân thực và chính xác chỉ nhận thông tin mà không hề thêm bớt, nó trụ trong một Tỉnh Lặng không có phán xét hay suy diễn. Hoặc khi cần diễn giải, suy luận th́ cái trí chân thực ấy nhận thức vấn đề trong Tĩnh Lặng, đồng thời biết rằng ḿnh đang suy luận, diễn giải và cũng tự ư thức rằng cái kết luận của ḿnh có thể là không chính xác.

Tại sao chúng ta cần phải dùng cái trí “chân thực” trên đây? V́ phiền năo là do sự sai lệch trong tiến tŕnh nhận biết và suy diễn của trí phàm gây nên. Cứ mỗi lần ta cảm thấy đau khổ về việc ǵ, chỉ cần b́nh tâm, tự hỏi vài câu như sau là sẽ thấu hiểu được sự đau khổ của ḿnh ngay: điều ta đang than phiền có phải là do trí ta suy luận dựa trên quan niệm, kiến thức cũ, định nghĩa về vai tṛ, trách nhiệm, mối liên hệ gia đ́nh, xă hội không? Ta có bị phiền năo v́ trí ta đang suy diễn không? Khi người yêu trễ hẹn, có phải trí ta tự đặt ra hằng bao nhiêu lư do, diễn giải lung tung rồi cảm thấy đau khổ chăng? Khi ta nh́n thấy ông hàng xóm chở một người đàn bà lạ mặt trên xe, có phải trí của ta tự động và nhanh chóng kết luận về sự liên hệ của họ không?

Nói tóm lại, cứ mỗi khi trí ta đi đến một “kết luận” nào, ta nên ư thức tiến tŕnh nhận biết của nó. Tiến tŕnh nào của cái trí được gọi là chính xác? Đó là   tiến tŕnh được diễn ra trong sự Tĩnh Lặng hoàn toàn. Nó diễn ra mà không xét đoán, phê phán, đề nghị hoặc diễn giải. Nó chỉ là những quan sát và nhận biết trong yên b́nh.

Nên Và Không Nên Của Cái Trí

Vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn một khi “cái trí không chính xác” dựa trên những kiến thức sai lệch để đưa ra phán xét. Sau đây là những ví dụ về các suy nghĩ của cái trí bị sai lệch. Các tư tưởng này tự bản thân nó không gây phiền năo nhưng khi cái trí chấp chặt vào chúng, ứng dụng bừa băi, bất chấp mọi lư lẽ th́ sẽ kéo theo phiền năo ngay tức th́. Các ví dụ dưới đây cho thấy cách vận hành của cái trí. Khi trí đang quan sát các hiện tượng và các sự việc mới, nó t́m trong kư ức, nơi mà nó đă tích trữ mọi điều từ nghe, thấy, trải nghiệm đến các thói quen, quy ước và mong muốn. Sau đó nó khư khư áp đặt những quan niệm và giá trị cũ lên sự việc mới. Rồi nếu thế giới chung quanh không thuận theo mong đợi và sự lư giăi của nó, cái trí sẽ trở nên khó chịu. Nó có thể than phiền hay thậm chí là nổi giận. Nếu bạn thường bị trí ḿnh hoạt động như trên, đem những ư nghĩ tương tự lặp đi lặp lại trong đầu và gây phiền năo cho bạn th́ pháp Tại và Hiện đúng là dành cho bạn đấy!

Những thí dụ sau đây cho ta thấy cách cái trí lấy dữ liệu từ các giác quan, rồi áp dụng, đưa ra đ̣i hỏi và phán xét của nó, gây nên phiền năo cho ta:

􀂙 Thị giác: “tôi quan niệm rằng chúng ta nên sống một cách ngăn nắp, thứ tự và sạch sẽ … Tôi cảm thấy khó chịu khi nh́n thấy quần áo vứt lung tung, đĩa chén bẩn, đồ đạc bụi bẩn, ngổn ngang. Tôi   không thích những người thiếu ngăn nắp, thứ tự. Họ nên sống một cách sạch sẽ, khỏe mạnh hơn”.

􀂙 Thính giác: “Tôi không thích nghe những lời trái tai, những tiếng ồn ào. Tôi đặc biệt khó chịu khi người ta gây ồn một cách cẩu thả, vô t́nh. Tôi rất bực ḿnh khi người khác đóng mạnh cửa, lê giày dép lẹp xẹp, khua chén lẻng kẻng, nói điện thoại to tiếng hay tṛ chuyện khi xem phim trong rạp”.

􀂙 Vị giác: “Tôi ăn uống khá kén chọn. Không hợp khẩu vị th́ thà nhịn đói chứ không ăn. Trong bữa ăn mà thực phẩm dở, không hợp khẩu vị, tôi cảm thấy rất bực ḿnh”.

Trí của chúng ta c̣n có khả năng làm những xét đoán phức tạp hơn dựa trên những quan sát của nó. Nó nắm giữ và dùng một số định kiến để làm méo mó những thông tin từ ngoài vào. Các định kiến thường là về sự liên hệ, giá trị, vai tṛ và bản thân.

􀂙 Giá Trị: “Nếu mặc cái áo này ra đường, người ta sẽ cười tôi (tồi tàn, thiếu thẩm mỹ v.v...) hay người ta sẽ khen tôi (sang trọng, đẹp, hợp thời trang v.v…) Khi tôi nh́n kiểu cách ăn mặc, dáng đi và loại xe họ sử dụng v.v. là tôi biết ngay giá trị của họ”. Ở đây cái trí định nghĩa giá trị qua dáng vẻ bên ngoài và rất quan tâm đến sự khen, chê của người khác. V́ vậy, nó sẽ phiền năo khi không có điều kiện trang điểm theo đúng biểu tượng giá trị cho bản thân hay cho gia đ́nh.

􀂙 Định Danh về cái Ta (Identity): “Tôi mất việc làm và tất cả tiền bạc. Tôi hoàn toàn thất bại”. Cách suy nghĩ sai lầm trên đây của cái trí làm chúng ta tưởng rằng chúng ta là nguyên nhân trực tiếp và duy nhất tạo ra mọi hiện tượng và những sự vật biểu hiện của thành công hay thất bại trong   đời ḿnh. Điều cực kỳ quan trọng là làm sao để cái trí nhận ra và hiểu rằng chúng ta chỉ tham gia và không thật sự tạo ra trọn vẹn một kết quả nào cả. Ví dụ, khi trí ta nh́n một cơ nghiệp th́ chỉ nên thấy đơn thuần là “một cơ nghiệp” mà thôi. Nó không nên thấy đó là “một cơ nghiệp tôi đă tạo ra” hay “một cơ nghiệp tôi đă làm mất” hoặc “ḿnh” là cơ nghiệp hay cơ nghiệp là “ḿnh”. Cách nh́n đúng đắn này sẽ giúp chúng ta vượt qua những đau khổ liên hệ đến thành công hay thất bại, được hay mất, vinh quang hay nhục nhă… Và cách nh́n này giải phóng chúng ta ra khỏi ảo tưởng đeo bám: “Tôi là người chế ngự và làm chủ mọi sự việc trong đời tôi” hoặc “tôi là những ǵ tôi sở hữu hoặc thành đạt được”.

􀂙 Các mối liên hệ và vai tṛ trong xă hội: “Họ là người thân của tôi, họ nên giúp tôi khi tôi gặp khó khăn cần được giúp đỡ nhưng họ đă chẳng giúp tôi”. Ở đây, trí ta định nghĩa gia đ́nh có mối liên hệ đến một số trách nhiệm nào đó, nếu ai không hoàn thành trách nhiệm th́ nó phán xét, trách móc. “Con cái phải vâng lời, hiếu thảo với cha mẹ”. “Cha mẹ phải thương yêu đồng đều, chăm sóc, lo lắng cho con cái đến nơi, đến chốn”. Đối với cái trí, vai tṛ của con cái và cha mẹ thường gắn liền với một số trách nhiệm và đ̣i hỏi. Cái trí phán xét, trách móc và phê b́nh nếu những thứ này không được đáp ứng đủ. Nếu đứa con không gọi điện thoại hay thăm viếng cha mẹ, cha mẹ sẽ buồn phiền. C̣n người con th́ mặc cảm thiếu bổn phận và trách ḿnh đă không làm tṛn bổn phận, không thoả đáng được những đ̣i hỏi này. Sự đ̣i hỏi có thể đưa đến những thái cực quá đáng mà người ta   không hề nhận biết. Thí dụ như một trường hợp có thật mà chúng tôi biết được: một bà mẹ đ̣i hỏi, cho rằng con gái ḿnh phải báo hiếu bằng cách bán thân đem tiền về cho bà cờ bạc.

“Công việc của người phụ nữ trong gia đ́nh là chăm sóc chồng, con. Công việc của nam giới là cung cấp tài chánh, tiện nghi vật chất, dạy con học”. Một lần nữa, trí ta gắn liền các nhiệm vụ với vai tṛ con người trong gia đ́nh, xă hội. Cũng như mọi quan niệm khác, nếu v́ lư do nào đó mà có ai không đáp ứng được trọn vẹn các nhiệm vụ mà trí đă định nghĩa cho một vai tṛ th́ nó sẽ khắc khoải, nhắc nhở, than phiền măi vậy”.

Về mặt cái trí, trục trặc lớn nhất trong cuộc đời này thường là sự liên hệ giữa con người với nhau. Ta cần phải nh́n mọi người một cách chính xác. Thí dụ, ta nên nh́n người bạn đời như sau: “Đây là một con người mà trước khi gặp tôi, đă sống mấy chục năm trên trái đất này, có những quan niệm riêng không “chính xác”, cơ thể và tinh thần hoàn toàn biệt lập với tôi”. Có khi nào ta chợt nhận ra là ngoài việc để làm người bạn đời của ta, người ấy c̣n hiện diện trên đời này với những mục đích riêng khác không? Cái nh́n này sẽ giúp cái trí ta chấp nhận, tôn trọng mọi người chung quanh và không c̣n có nhu cầu buộc họ phải từ bỏ cái “không chính xác” của họ để phải tuân theo cái “không chính xác” của ḿnh.

Quá Khứ Và Tương Lai Vô Tận Của Trí Thường th́ trí không cần dùng đến việc quán sát để làm vui v́ nó luôn luôn có quá khứ và tương lai để bận tâm đến. Nguồn gốc lớn của đau khổ phát xuất từ một cái trí liên tục hồi tưởng và sống trở lại trong quá khứ, không ngừng nghỉ lo lắng và hoang tưởng về   tương lai. Chúng ta thường hay bị mất cơ hội trải nghiệm ngay hiện tại chỉ v́ trí ta cứ lấy sự đau đớn, sự tiếc nuối từ quá khứ để hồi tưởng và sống lại những cảm xúc ấy như một cái máy hát đĩa cũ bị vấp, bất chấp mong muốn của chúng ta là sống trong hiện tại. Ngoài ra, chúng ta cũng sống một phần của thời tương lai bằng sự lo lắng, sự toan tính và mơ mộng hoang tưởng quá mức.

Đau khổ đến ngay khi chúng ta lo lắng những việc tương lai như khi nào kết hôn, khi nào có con, bao giờ th́ sẽ có tiền v.v. Cái trí cứ lẩn quẩn đeo đuổi những sự kiện hoàn toàn thuộc về một thời khắc khác rồi lôi kéo, thôi thúc ta đem chúng ra sống trong hiện tại.

Nói tóm lại, đây là cách mà qua sự vận hành rối loạn, cái trí tạo nên những đau khổ cho chúng ta:

• Nó bận rộn lặp đi lặp lại những phiền năo từ quá khứ.

• Nó đắm ch́m trong lo lắng, sợ hăi, và lẩn quẩn mơ tưởng việc tương lai.

• Nó khắc khoải, vật vă trong việc ứng dụng một cách cứng nhắc và bất kể lư lẽ các quan niệm, nhân sinh quan mà xă hội loài người đă đặt ra.

• Nó phán đoán, phân tích, nhục mạ, tranh căi, xây dựng các h́nh ảnh và cảm xúc của bạo động, oán hờn, ganh tị, v.v…

• Nó cũng là tác nhân mang nhiều bệnh hoạn và đau đớn cho cơ thể v́ sự miên man tai hại kia cứ liên tục chuyển tải sự nhiễu loạn của tư tưởng đến các tế bào.

Khi một người lẩm bẩm nói một ḿnh suốt ngày th́ ta cho rằng người ấy mắc bệnh tâm thần. C̣n bản thân ta và tất cả mọi người c̣n lại th́ cũng nói suốt ngày đêm, không ngừng nghỉ, khác chăng là ta nói âm thầm trong đầu, không phát thành lời mà thôi. Đây là một căn bệnh trầm kha nhưng v́ mọi người ai cũng bị mắc phải bệnh này nên tưởng rằng đây là một trạng thái “b́nh thường”. Điều này có nghĩa rằng thay v́ ta là người chủ điều khiển cái công cụ “trí” kia th́ trong thực tế, cái trí đó đang miên man vận hành và điều khiển ta. Nó thúc đẩy từng ư tưởng, lời nói, việc làm, cảm xúc mà ta tưởng rằng ta làm, ta muốn, ta cảm nhận hoặc ta đau khổ. Ngày nào chúng ta chưa TẮT được cái trí này khi cần thiết, th́ chúng ta vẫn chưa thoát khỏi đau khổ.

Mục tiêu ở đây không phải là bỏ quên quá khứ hay là không dự tính cho tương lai. Cũng không phải là không có ư niệm hay quan điểm. Vấn đề đặt ra ở đây là quá tŕnh (processes) suy nghĩ đưa đến những t́nh trạng như trên xảy ra một cách vô thức và theo thói quen. Khi chúng ta nói rằng chúng ta muốn vặn tắt cái trí ấy là chúng ta muốn lấy lại sự chủ động đối với quá tŕnh đó. Chúng ta muốn vặn tắt cái công tắc tự động. Nghĩa là mục tiêu của chúng ta là phải có được khả năng chọn lựa và áp dụng. Chúng ta sẽ chọn lựa khi nào nên áp dụng một quan niệm hay một định kiến, khi nào nên hồi tưởng việc quá khứ hoặc lúc nào nên dùng những h́nh ảnh, những cảm xúc sẵn có bên trong chúng ta.

Cái trí không phải là một tai họa cho nhân loại. Ngược lại – nó sẽ trở nên một bộ máy rất quư báu nếu ḿnh biết cách dùng nó. Chúng ta cần lấy lại sự chủ động đối với cái trí và tự giải phóng ḿnh ra khỏi những thói quen tai hại của nó, hầu t́m được hạnh phúc lâu dài. Một khi chúng ta đă trở thành chủ nhân của trí ḿnh, chúng ta có thể vun bồi cho nó những tính tích cực như sự sáng tạo và sự tỉnh giác. Một khi chúng ta hiểu được tiến tŕnh lư luận và diễn giải của cái trí, chúng ta có thể dùng cái trí như là một công cụ để vun trồng, nâng cao tâm thức cho ḿnh và cho người khác.

Muốn loại trừ đau khổ cần có ba việc:

1. Sự hiểu biết về cái trí và những thói quen của nó.

2. Một phương pháp để thuần hóa nó.

3. Quan trọng nhất là sự thức giác về bản thân cũng như về sự liên hệ giữa ta với mọi người.

Chương này chúng tôi đă giới thiệu về tiến tŕnh của cái trí, chương kế tiếp sẽ giới thiệu về một phương cách dùng để tu dưỡng thức giác cần thiết nói trên. Phương pháp này tuy chỉ là một trong vô số phương pháp thiền đang được phát triển hiện nay. Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng đây là một phương pháp đơn giản, dễ ứng nghiệm và hiệu quả nhất để đạt tới sự Tĩnh Lặng và thức giác cần thiết. Chúng tôi hy vọng rằng nó sẽ rất hữu ích cho những ai c̣n chưa t́m được một phương tiện thích hợp cho việc t́m kiếm một hạnh phúc lâu bền.  

Chương Hai

Ch́a Khóa Thiền “Tại và Hiện”

Ch́a khóa của chúng ta ở đây là một phương pháp đơn giản giúp ta tự giải phóng ḿnh ra khỏi đau khổ: đó chính là cách “vặn tắt” được cái trí. Ch́a khóa này đặc biệt dành cho những bạn biết rất ít về thiền. Phương pháp thiền có tên gọi là Tại và Hiện này không đ̣i hỏi phải ngồi khoanh chân hằng giờ hay làm điều ǵ khó khăn, cực nhọc, thâm cao. Thiền không chỉ dành riêng cho người “tu” mà thôi. Ai cũng có thể tập phương pháp này dễ dàng, mọi nơi, mọi lúc: ngồi trên ghế cũng được, tư thế thoải mái, hay ngay cả lúc đi, đứng, nằm hoặc làm việc.

Pháp Tại và Hiện cũng không đ̣i hỏi phải xa rời đời sống xă hội, vật chất b́nh thường, bỏ công ăn, việc làm hay bỏ gia đ́nh để lên núi ngồi một ḿnh năm này qua tháng nọ. Ngoài ra, nó không thuộc một tôn giáo nào. Ai cũng có thể dùng phương pháp thiền này được.

Mục Đích Thiền

Thiền, nói chung, cũng đă hiện hữu từ hàng ngàn năm trước, kể từ khi con người biết im lặng từ lời nói đến tư tưởng. Sự im lặng này giúp phục hồi năng   lượng cho cơ thể và giúp trí óc thật sự nghỉ ngơi một cách trọn vẹn.

Chúng ta thiền để làm ǵ? Để t́m được an b́nh nội tâm? Hết đau khổ? Chữa bệnh? Tu tâm sửa tâm tính? Phát triển trí tuệ? Thăng tiến tâm linh? Đạt sự minh triết? Hay Giác ngộ Chân lư? Dầu với mục tiêu đơn giản nhất là không c̣n phiền năo và bệnh tật, hay với mục tiêu cao xa như Giác Ngộ, phương pháp thiền của cuốn sách này sẽ là bước đầu để đáp ứng được các mục tiêu đó.

Trong phạm vi của cuốn sách này, chúng ta chú tâm vào việc giải trừ đau khổ cho bản thân VÀ giúp ḿnh tránh việc gây đau khổ cho người khác nữa. Sau khi thành công trong việc ứng phó với cái nguồn gốc thật của phiền năo th́ chúng ta sẽ thấy rằng ḥa b́nh và hạnh phúc lâu bền, chân thật sẽ măi ở với chúng ta vậy.

Khái Niệm Cơ Bản về Tại và Hiện

Mục tiêu đầu tiên của thiền Tại và Hiện là làm cho cái trí nhiều loạn động này trở nên yên tĩnh. B́nh thường, khi ta muốn tập trung sự chú ư vào một việc ǵ th́ trí ta sẽ là “người chỉ huy” hành động này. Thật vậy, trí của ta thường chỉ đạo và hướng dẫn hầu hết các hoạt động và suy tư hằng ngày. Có pháp thiền khác dùng cái trí để gián tiếp đưa đẩy chính nó vào trong sự Tĩnh Lặng. Cũng có những phương pháp dùng cách “thức giác” là cái trí luôn ư thức được các giác quan, tư tưởng và các hành động như đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, suy nghĩ, v.v.

Kỹ thuật pháp thiền Tại và Hiện hơi khác với các phương cách trên. Nó đặc biệt tránh không “vật lộn” với cái trí. Ở cấp thiền sơ khởi, cái trí này sẽ nằm ở vị   trí chỉ định nhưng người hành thiền vẫn không theo dơi hay chăm chú ǵ đến nó cả. Trí và cơ thể được nghỉ ngơi thật sâu và v́ thế trải nghiệm được niềm an b́nh và yên tĩnh sâu lắng. Khi tập khá hơn, những trạng thái này sẽ giải thoát cái trí ra khỏi những thói quen nói năng miên man và sự trói buộc của các quan niệm, diễn giải và nhận thức sai lệch đă tích tụ trong nó. Ở tŕnh độ cao hơn, chính cái “Chân Ngă” cao cả sẽ chủ động trong mọi hoạt động hàng ngày và luôn luôn “biết” có hoặc nối liền với sự “Tĩnh Lặng” hiện diện bên trong. Thêm vào đó, phương pháp này c̣n cho ta tiếp tục thực tập ngay cả trong giấc ngủ để ta có thể mang lại b́nh yên cho cả tiềm thức của ta. Một khi ḿnh đă đạt được những thứ này, phần đời c̣n lại sẽ khoẻ mạnh, hạnh phúc và yên b́nh.

Tại và Hiện là ǵ? “Tại” là “ngay tại đây” và “Hiện” là “ngay bây giờ”. Nó là kết quả của hai việc: giữ “Thân đâu, Ư đó” và sự vắng bặt của suy nghĩ khi trong một trạng thái thức giác cao hơn. Khái niệm này nghe lạ v́ “không suy nghĩ” là trạng thái ǵ của cái trí vậy? Đó là khi cái trí đứng yên, không tưởng nghĩ, không t́m về quá khứ và cũng không mơ đến tương lai, hay phân tích và đi đến những kết luận sai lệch. Trí và thân trở nên làm Một, hợp nhất thân thể ta với sự Tĩnh Lặng sâu lắng nội tại; một trạng thái vượt không gian và thời gian. Người ta cho rằng sự ḥa hợp thành một khối duy nhất này đang chứa đựng rất nhiều điều bí mật của cuộc sống bởi v́ những ai đă đạt được điều này đều không bao giờ bị cảm xúc phiền năo, thiếu thốn hoặc rối loạn ảnh hưởng đến họ nữa.

Nói một cách đơn giản, trước nhất ta tập giữ được cái trí yên lặng khi không cần dùng nó. Kế tiếp, giữ nó yên lặng lúc ta đang dùng nó. Rồi sau đó, ta   giữ nó trong Tĩnh Lặng ngay cả khi ḿnh đang ngủ. Đây là lúc ḿnh đă đến được một tâm thức cao hơn, không c̣n đau khổ nữa. Với phương pháp thiền Tại và Hiện này, chỉ trong ṿng vài hôm là hầu hết mọi người đều cảm nhận ngay được sự cải thiện đáng kể về mặt cảm xúc và tinh thần. Thậm chí, bạn có thể cảm nhận được ảnh hưởng ngay sau lần tập thiền ngắn ngủi đầu tiên. Phương pháp này hữu hiệu mà không cần bạn phải có ḷng tin tưởng trước. Chỉ cần thử một cách chân thật trong một tuần là bạn có thể tự xác định được kết quả ngay.

Riêng cho các bạn đă quen thuộc với thiền, Chương Sáu gồm có nhiều chi tiết và giải thích về mặt kỹ thuật, nhất là trong việc so sánh với các pháp thiền khác.

Cách Dùng Pháp Tại và Hiện

Tóm lại, sự phiền năo và cảm xúc nói chung được phát triển theo những cách như sau:

• Từ quan niệm, cảm xúc và ứng xử cất giữ trong kư ức.

• Từ sự diễn giải của cái trí qua các ghi nhận của năm giác quan.

• Từ những suy nghĩ về những sự việc đă xảy ra trong quá khứ hoặc có thể xảy ra trong tương lai. • Từ các giá trị, niềm tin và đ̣i hỏi được cái trí áp đặt cho ḿnh và người khác.

Đây là những phương cách chúng ta có thể áp dụng: Để chấm dứt sự tự động dùng kiến thức cũ một cách máy móc của cái trí, chúng ta có thể “hiện tại hóa” bằng pháp Tại và Hiện. Khi thấy ḿnh “sống lại” một sự kiện hay một cảm xúc đau buồn từ kư ức,   ta cần phải “hiện tại hóa” ḿnh ngay để giải thoát thân, tâm, ư ra khỏi cảm xúc đau khổ bằng cách dùng Tại và Hiện để đi vào Tĩnh Lặng, giữ cái trí tĩnh lặng ít nhất là một phút. Sau đó, trong Tĩnh Lặng, quan sát lại sự kiện, cảm xúc ấy; nghĩa là tách ḿnh đứng ra ngoài sự kiện, không “hồi tưởng” lại, đồng thời cũng không xa rời hiện tại.

Chúng ta có thể dùng pháp Tại và Hiện để giảm thiểu sự gắn bó giữa trí và năm giác quan. Thí dụ, mắt vừa nh́n thấy một đoá hoa hồng th́ cái trí đă vội vàng chạy về kư ức lấy ra h́nh ảnh và cảm xúc đau khổ liên hệ tới một đoá hoa hồng của ngày xưa. Hoặc tai ta vừa nghe người bạn than nghèo, đang gặp khó khăn th́ cái trí đă vội vàng lục lọi hồ sơ trong kư ức xem, rồi tự kết luận có thể người bạn sẽ hỏi mượn tiền ḿnh. Cái trí chợt nhớ lại những cảm xúc phiền năo trong quá khứ liên hệ đến việc cho mượn. Trong trường hợp này chỉ cần hít một hơi thở đầy, thở ra chậm, vào trong Tĩnh Lặng và lắng nghe là sẽ giữ được cái trí “bấn loạn này” yên ngay.

Để ngăn chặn cái trí sống trong quá khứ hoặc tương lai, chúng ta cần phải đối phó với sự khống chế của nó trong việc tưởng tượng. Cái trí có một khả năng rất đặc biệt. Nó không cần nhờ vào các giác quan mà vẫn “thấy” được h́nh ảnh, “nghe” được âm thanh, thậm chí nó có thể tự tạo cảm giác, vị giác, khứu giác và kích thích các phản ứng của tinh thần và thể xác. Ví dụ, khi cái trí tưởng tượng một trái chanh đang được vắt vào miệng ḿnh th́ các tuyến nước miếng lập tức hoạt động. Tuy nhiên, khả năng rất đặc biệt này c̣n là con dao hai lưỡi, có thể mang đến cả buồn lẫn vui. Đành rằng khả năng tưởng tượng giúp rất nhiều cho sự sáng tạo, phát minh và nghệ thuật,   nhưng nó cũng có thể phác hoạ ra bao nhiêu mơ ảo của quá khứ và tương lai, mang đến nhiều đau khổ cho chúng ta.

Khi cần thiết phải cắt đứt sự tưởng tượng vô bổ nào đó đang miên man, ta chỉ cần thở một hơi thật sâu rồi vào trong Tĩnh Lặng của Tại và Hiện là đương nhiên cái trí sẽ ngưng quá tŕnh tưởng tượng của nó ngay. Phương pháp này hữu ích đặc biệt trong việc ngăn chặn cái trí tưởng tượng vượt ra ngoài khả năng kiểm soát, di hại đến bản thân và những người chung quanh ta.

Để thay đổi các đ̣i hỏi và phán đoán của cái trí, chúng ta cũng cần t́m hiểu thêm về những cái nh́n mới mẻ đối với những b́nh diện của cuộc đời. Chương Ba gồm một số ví dụ về những cái nh́n mới có thể giúp chúng ta tu dưỡng thức giác và thay đổi thói quen của cái trí hay áp đặt quan niệm và đ̣i hỏi của nó lên chúng ta và mọi người chung quanh.

Trải Nghiệm Tại và Hiện

Mục tiêu cuối cùng của pháp thiền này là bạn có khả năng luôn luôn giữ được trạng thái Tĩnh Lặng nội tại dù bạn đang ngồi, đứng, đi, thức hay ngủ. Tuy nhiên, lúc đầu, bạn cũng cần thiền ngồi mỗi ngày để đạt tới mức độ sâu khởi điểm của Tĩnh Lặng. Thực tập phương pháp này, chúng ta sẽ tiến qua bốn giai đoạn:

Giai đoạn 1: trong giai đoạn này, lúc ngồi thiền, qua sự cố ư, chúng ta có thể chủ động làm gián đoạn được ḍng tư tưởng miên man, trải nghiệm được sự Tĩnh Lặng, yên b́nh, nghỉ ngơi và sáng suốt của “trí”. Giai đoạn 2: vào những lúc không ngồi thiền, ta đang trong sinh hoạt b́nh thường mà ta vẫn thường xuyên trải nghiệm được sự hiện diện của Tĩnh Lặng một cách vừa tự nhiên vừa có ư thức bằng cách thiền ngắn hạn (1 phút) nhiều lần suốt trong ngày

Giai đoạn 3: đến giai đoạn này, cái trí cũng đă khá ngoan ngoăn, ít rối loạn. Qua thực tập, ta đă có thể b́nh thản sống đối diện với mọi hoàn cảnh thực tại, ư thức được sự thúc giục và thói quen của trí ta, và bước ra khỏi những rối loạn cảm xúc mà vẫn duy tŕ được Tĩnh Lặng suốt.

Giai đoạn 4: Đến giai đoạn 4 này th́ ta và trí có thể hoà hợp một cách tự nhiên, không c̣n có sự đấu tranh, rối loạn. Đây là lúc ta sống và hoạt động hàng ngày mà luôn luôn có một sự gắn bó âm thầm, nhẹ nhàng với sự Tĩnh Lặng bên trong. Trí ta bây giờ không c̣n tự động phân tích, phán đoán, phản ứng, hay lải nhải liên tục như trước kia nữa.

Người ta tin rằng hầu hết các vị thức giác sống thường hằng trong trạng thái Tĩnh Lặng này.

Ghi Chú Cho Thiền Sinh Của Các Pháp Môn Khác 􀂃 Thiền sinh đă có tập các pháp môn dùng hệ thống Luân Xa: V́ mục đích của pháp thiền Tại và Hiện là sự Tĩnh Lặng và vắng bặt mọi “suy nghĩ” nên trong khi thực hành Tại và Hiện, thiền sinh cần buông lỏng hết các bắp thịt ở vùng trán và mắt, đặc biệt nên tránh không tập trung ở Luân Xa Sáu (mắt thứ ba).

􀂃 Thiền sinh đă có kinh nghiệm với các pháp môn khác, nhất là các hệ thống dùng năng lượng: V́ đă quen có những cảm giác của sự luân lưu năng lượng và độ rung trong cơ thể, hoặc “nh́n” thấy   được nhiều điều mới lạ khi thiền, nhiều thiền sinh khi thực hành pháp thiền Tại và Hiện thắc mắc tại sao lại không “thấy” ǵ hết. Mục đích của Tại và Hiện là sự vắng bặt của “Ư”, nghĩa là vắng luôn cả ư mong chờ “thấy” ǵ, thậm chí vắng luôn cả ư mong chờ đạt được sự Tĩnh Lặng th́ mới đúng phương pháp v́ hành động mong chờ sẽ làm cản trở ta vào được Tĩnh Lặng. Trường hợp bạn kinh qua cảm giác hoặc linh ảnh, xin hăy lờ chúng đi v́ mục tiêu của chúng ta ở đây là buông xả luôn tư tưởng của cái trí về mọi chủ đề, kể cả những kinh nghiệm như trên.

􀂃 Thiền giả của các pháp thiền truyền thống: Nhiều pháp thiền khác nhấn mạnh việc luôn luôn tỉnh thức. Pháp Tại và Hiện có nét đặc thù là nhấn mạnh việc hoàn toàn buông lỏng, bất động thân-ư, kể cả không cố gắng tỉnh thức. Trong giai đoạn đầu tập thiền, trạng thái lư tưởng là nửa thức và nửa ngủ nghĩa là điểm ở giữa hai trạng thái thức và ngủ. Sau đó, nếu muốn tập chiêm nghiệm th́ giữ yên sự Tĩnh Lặng, bước qua trạng thái tỉnh thức hoàn toàn rồi làm theo hướng dẫn trong Bài Tập Cấp 1 sau đây.

Cấp Một: Nhập Vào Tĩnh Lặng

Chú ư: Xin lưu ư rằng lư do duy nhất khi phân ra ba cấp là để tiện cho việc hướng dẫn và thực tập chứ không ngụ ư phân chia mức độ thành đạt tâm linh ǵ cả. Bạn hăy bắt đầu với Cấp Một rồi sau khi thông thạo th́ hẳn tập lên cấp kế tiếp. Tuy nhiên, bạn không nên cảm thấy áp lực phải tiến lên cấp khác v́ nhiều người chỉ dùng Cấp Một hoặc Cấp Hai rất thoải mái và hữu hiệu mặc dù họ đă thành thạo cả ba cấp. Hăy t́m cho bạn cấp nào thoải mái là được.  

Thiền Ngồi

Mặc dù ta gọi là “thiền ngồi”, hăy nhớ rằng pháp thiền này được dùng ở bất cứ lúc nào, nơi nào và bất cứ tư thế nào. Chỉ cần làm sao cho càng thoải mái và thư giăn càng tốt.

Bước một: Hít một hơi (qua mũi) thật sâu, chậm; khi thở ra (qua miệng), ta cảm tưởng như có một làn sóng chảy dài từ đầu xuống chân giúp toàn bộ cơ thể thư giăn. Buông lỏng hết các bắp thịt trong người. Mắt mở he hé hay nhắm, đừng chăm chú vào điểm nào cả.

Bước hai: Thầm nhủ với “Trí” là “Thân ở đây này”, “nhận biết” rằng cái “Trí” của ta đă đến tại vị trí trái tim. Thư giăn và buông xả trí không nghĩ điều ǵ, không tập trung. Đặc biệt, thả hết các cơ chung quanh mắt, trán cho dù nhắm hay mở mắt. Thỉnh thoảng mơ hồ biết rằng “Trí” vẫn ở nơi trái tim.

Khi thấy “Trí” bỏ đi lang thang hay suy nghĩ th́ nhẹ nhàng nhắc lại “Thân ở đây này”, đưa nó trở về an định ở vị trí cũ, rồi lại tiếp tục buông lỏng hết toàn thân - trí ngay.

Để yên như vậy trong trạng thái không suy nghĩ, không tập trung ít nhất là một phút, tối đa là 30 phút. (Thiền sinh mới th́ không nên thiền lâu hơn 30 phút. Sau chừng khoảng một tháng th́ bạn có thể thiền lâu hơn nếu thấy thoải mái.)

Bước ba: Kết thúc thiền ngồi: từ từ hít một hơi thở sâu. Thở ra chậm, mở mắt và nh́n rơ lại b́nh thường, vươn vai nếu cần.  

Nếu muốn chiêm nghiệm vấn đề ǵ hay phát triển trí tuệ th́ sau khi mắt nh́n rơ lại, hăy giữ nguyên trạng thái Tĩnh Lặng đang có nhưng trí th́ tỉnh thức hoàn toàn. Ta âm thầm quan sát và chiêm nghiệm các tư tưởng xuất hiện mà không phân tích hay suy luận ǵ cả. Thời gian bao lâu cũng được.

Thông thường, nếu chọn sự phát triển trí tuệ làm trọng tâm thiền th́ nên có sự hướng dẫn trực tiếp của một bậc thầy đă thành đạt tâm linh về mặt trí tuệ. Nếu không, dễ bị lầm lẫn cái trí phàm là “Chân trí tuệ” rồi vô t́nh bị cái trí phàm đó gạt, ta sẽ lạc luôn trong đó.

Thiền Ngủ

Đầu tiên, chúng ta bắt đầu thoát khỏi đau khổ khi vào được Tĩnh Lặng lúc thiền ngồi. Kế tiếp, chúng ta mang sự Tĩnh Lặng này vào các sinh hoạt hằng ngày. C̣n thiền ngủ, chúng ta cố gắng xử lư một phần khác của cái trí là tiềm thức của chúng ta. Để không c̣n đau khổ ngay cả trong giấc mơ, ta hướng dẫn cả tiềm thức lẫn cái trí tư duy suốt trong giấc ngủ vào ẩn trú vào nơi Tĩnh Lặng. Như thế, chúng ta sẽ thức giấc mỗi ngày trong tươi mát và an b́nh với chính bản thân và thế giới v́ phương cách này giúp ngăn chặn cái trí tiếp tục những thói quen cũ trong đêm.

Phương thức thiền như sau: khi nào bạn cảm thấy thật buồn ngủ và sắp sửa rơi vào giấc ngủ, nói thầm với cái trí tư duy và tiềm thức của ḿnh: “Hăy ẩn trú vào cơi Tĩnh Lặng suốt thời gian ngủ này”. Sau đó bạn buông xả mọi ư nghĩ và các cơ bắp, ch́m vào một giấc ngủ b́nh yên.  

Dấu Hiệu Tĩnh Lặng Khi Thiền

Người hành thiền trong sự Tĩnh Lặng sâu thường có những dấu hiệu sau đây: Cơ thể không lắc lư, nghiêng ngả, tay chân để yên, đầu không ngọ nguậy, cử động. Mặt người này trông có vẻ thanh thản, các cơ trên mặt không căng thẳng. Hơi thở nhẹ nhàng. Khi ở trong Tĩnh Lặng, dù ngồi thiền lâu, tay chân và lưng cũng không đau nhức. Thêm vào đó, nhận thức về thời gian và không gian có thể hơi sai lệch. Ví dụ, có thể họ ước định thời gian ngồi thiền của ḿnh không chính xác, hay khi mở mắt ngay sau lúc thiền, họ hơi bị sai lệch về không gian chung quanh. Một điểm đặc trưng của Tĩnh Lặng nữa là thân thể cảm thấy khoẻ khoắn và tinh thần an b́nh sau khi thiền.

Nếu muốn hiệu quả hơn, bạn có thể dùng pháp thiền Tại và Hiện thường xuyên trong ngày: mỗi ngày thiền ngồi ít nhất một lần từ 10 đến 30 phút và thêm tối thiểu ba lần thiền ngắn trong sinh hoạt thường nhật, mỗi lần ít nhất là một phút. Nếu cái trí bạn thuộc loại hiếu động, thường chạy xuôi ngược mọi nơi và mọi lúc, chúng tôi đề nghị bạn nên thiền thường xuyên và lâu hơn. Rồi khi sắp rơi vào giấc ngủ, dù ngủ trưa, tối, hay đêm thức giấc rồi ngủ lại, bạn hăy áp dụng thiền ngủ của Tại và Hiện.

Nên nhớ rằng mục tiêu chính của chúng ta là sống trong hiện tại, luôn thức giác về các tiến tŕnh của cái trí ḿnh, luôn kiểm soát được tư tưởng, cảm xúc, hành động, các thực trạng và duy tŕ được Tĩnh Lặng và b́nh thản trước mọi thăng trầm của cuộc đời. V́ thế, sau khi bạn đă tập được Tĩnh Lặng, cố gắng âm thầm  duy tŕ một liên hệ thường xuyên với sự Tĩnh Lặng này suốt trong ngày. Một lần nữa, xin nhắc là thiền một phút thường xuyên suốt trong ngày sẽ có lợi ích đáng kể và hữu hiệu.

Kỹ thuật thiền Cấp Hai sẽ giúp bạn vào sâu được trạng thái Tĩnh Lặng khi thiền ngồi. Nó cũng bao gồm một số cách tập để giúp bạn mang theo sự Tĩnh Lặng này vào trong đời sống hằng ngày. Khi nào đă tập thuần thục Bài Cấp Một rồi hăy thực tập đến bài Cấp Hai, nghĩa là sau khi bạn đă kinh qua được sự Tĩnh Lặng theo ư muốn và có thể duy tŕ được trạng thái này khá lâu. Hăy nhớ là Dục Tốc Bất Đạt.

Cấp Hai: Các Cách Ứng Dụng Khác Vào Tĩnh Lặng Sâu Hơn

Dùng cách thức dưới đây nếu bạn vẫn chưa đạt được độ sâu Tĩnh Lặng như ư:

Như ở Cấp Một, hít thở một hơi sâu và chậm, thầm bảo với “Trí” là “thân ở đây này”, vào trong Tĩnh Lặng được khoảng vài phút, giữ nguyên “Trí” ở chỗ trái tim, giữ sự tĩnh lặng trong toàn cơ thể, sau đó mở mắt từ từ, chầm chậm đảo mắt nhẹ nh́n chung quanh, đầu không động đậy rồi nhắm mắt lại từ từ. Thư giăn cơ thể và ch́m sâu vào Tĩnh Lặng. Sau vài phút, bạn có thể lặp lại việc mở và nhắm mắt như trên. Cứ mỗi lần lặp lại như vậy, ta sẽ vào sự Tĩnh Lặng sâu hơn. Chỉ nên làm tối đa 3 lần.

Sau đây là một vài phương cách để thực tập sau khi bạn đă vào Tĩnh Lặng thành thạo ở Cấp Một.  

Tĩnh Lặng Trong Lúc Cơ Thể Hoạt Động

Sau khi đạt được sự Tĩnh Lặng, giữ yên trạng thái này, từ từ mở mắt nh́n b́nh thường mà vẫn biết “Trí” đang ở yên nơi tim. Tiếp theo, ta bắt đầu cử động từng phần của cơ thể một cách chậm răi và đồng thời vẫn duy tŕ biết có sự Tĩnh Lặng bên trong. Khi đă quen dần, ta có thể nghe và đối đáp với mọi người mà “Trí” vẫn ngồi yên lắng nghe và không có phản ứng. Kế tiếp ta tập đi, đứng, làm việc thường ngày mà bên trong vẫn luôn Tĩnh Lặng.

Duy tŕ Tĩnh Lặng nội tại khi cần ứng xử trong đời sống xă hội có lẽ là khó khăn nhất. Tuy nhiên, việc tập duy tŕ thành thạo này có thể lại rất quan trọng. Khi chúng ta phải đối diện với những sự việc đau đớn hay con người tiêu cực, gây sự, hăy hít một hơi sâu và chậm, bảo thầm với trí là “Thân ở đây này”, thư giăn và trở vào Tĩnh Lặng từ ba mươi giây đến một phút. Cố gắng luôn ư thức sự hiện diện của Tĩnh Lặng khi tiếp nhân xử thế. Tập thường xuyên th́ sẽ thấy dễ dàng thôi.

Hóa Giải Các Cảm Xúc

Khi một ư tưởng dấy lên gây cho ta cảm xúc tiêu cực: đau đớn, buồn tủi, giận dữ… những cảm xúc mà ta không mong muốn, ta có thể hóa giải ngay bằng cách vào trong Tĩnh Lặng từ ba mươi giây đến một phút. Tập ứng phó loại cảm xúc này mỗi khi nó xuất hiện. Sau một thời gian luyện tập, bạn sẽ thấy những cảm xúc này càng lúc càng ít xuất hiện hơn.  

Cấp Ba: Kết Hợp Thân, Tâm, Trí, Quá Khứ và Hiện Tại

Bài tập Cấp 1 đă hướng dẫn bạn căn bản cách dừng “Trí”, cách vào sự Tĩnh Lặng, mở ḷng từ bi, và cách tự chữa bệnh. (Xem chi tiết ở Chương Bốn: cách tự chữa bệnh)

Bài tập Cấp 2 đă hướng dẫn cách vào được trạng thái Tĩnh Lặng sâu hơn, giữ được sự Tĩnh Lặng ngay trong các hoạt động thường nhật và cách hóa giải cảm xúc tiêu cực.

Bài tập Cấp 3 gồm một số cách tu, phát triển tâm linh bằng pháp thiền Tại và Hiện. Hăy đọc tiếp phần này nếu bạn cảm thấy sự chuyển hóa cá nhân này phù hợp với mục đích của bạn. C̣n nếu không hợp th́ xin đọc tiếp cuối chương này về những khác biệt giữa Tại và Hiện và những pháp thiền khác.

Dưới đây là phần hướng dẫn cách khai mở trí tuệ, cách đạt trạng thái Tĩnh Lặng kết hợp: Thân, Tâm và Trí. Qua sự hợp nhất đó ta làm thế nào sử dụng Tĩnh Lặng để “ăn năn, hối lỗi”. Nó sẽ giúp ta hóa giải những áp lực từ quá khứ đang là nguyên nhân gây ra đau khổ, bệnh tật.

Khai Mở Trí Tuệ

Trong lúc thiền, thay v́ đưa “Trí” về ngồi yên nơi tim th́ ta mời “Trí” về vị trí nơi trên sóng mũi, giữa hai đầu khóe mắt. sau đó thư giăn và nhập vào Tĩnh Lặng. Nếu muốn bước qua trạng thái chiêm nghiệm hoặc dùng Chân trí tuệ như trong các pháp thiền khác, bạn có thể tập như sau: mở mắt hoặc nhắm mắt, đầu óc hoàn toàn tỉnh thức và giữ yên sự Tĩnh Lặng   bên trong. Cần biết điều ǵ hay đang thắc mắc vấn đề nào, bạn đặt câu hỏi rồi để trí hoàn toàn trống không và yên lắng. Nhớ là hoàn toàn rỗng lặng, không mong chờ, không suy luận ǵ cả. Ư tưởng đầu tiên xuất hiện trong cái “trống không” này thường sẽ là câu trả lời hoặc giải đáp cho vấn đề của bạn. Khi bạn tập thuần thục cách này, bạn sẽ tự nhiên đạt tới kiến thức căn bản và sự minh triết mà cái trí ồn ào không thể nào chạm đến được.

Tu Dưỡng Ḷng Từ Bi

Phương pháp này giúp hiệp nhất thân, tâm, trí trong Tĩnh Lặng để chúng ta có thể tu dưỡng ḷng từ bi cùng với việc phát triển chân trí tuệ. Khi thiền, cũng làm giống như Cấp Một và Cấp Hai nhưng ta đặt “trí” ở hai nơi: trên sống mũi, nhủ rằng “thân đây này”, và đồng thời đặt “trí” nơi tim, nhủ rằng “tâm ở đây này”. Giữ yên trạng thái Tĩnh Lặng và hoàn toàn không nghĩ ngợi ít nhất là 30 phút.

Hóa Giải Nghiệp Lực Quá Khứ

Việc thường xuyên duy tŕ được trạng thái “Tĩnh Lặng” để ngăn chặn những thông tin cũ là điều rất khó khăn. V́ vậy, ta cần phải có biện pháp hóa giải các áp lực của những thông tin này. Bạn có thể dùng bước một và hai trên đây để hợp nhất “Thân, Tâm, Trí” hóa giải các phiền năo, đau khổ của quá khứ trong cuộc đời này.

Hóa Giải Duyên Nghiệp Tiền Kiếp

Nhiều người cho rằng nguồn thông tin cũ không nhất thiết chỉ là đến từ cuộc đời hiện nay mà chúng c̣n có thể đến từ quá khứ xa xưa của “tiền kiếp”. Chữ “quá khứ” nói ở đây là không giới hạn trong khoảng   thời gian nào mà nó được xem là tất cả thời gian trước cái khoảnh khắc hiện tại. Bạn nào tin và muốn hóa giải duyên nghiệp “tiền kiếp” xin hăy theo phương pháp dưới đây. Nếu thấy không thích hợp với mục tiêu của ḿnh th́ bỏ qua phần này vậy. Muốn hóa giải “lực quá khứ” của tiền kiếp, cần phải nghĩ rằng những đau khổ và phiền năo như bệnh hoạn, mối quan hệ bị tổn thương v.v… là kết quả của những ǵ ḿnh đă làm lỗi từ nhiều đời kiếp trước đây. Trong trường hợp này cần thực tâm ăn năn, sám hối những việc ấy, mặc dù ḿnh không hề biết hoặc nhớ việc lầm lỗi đó là ǵ và chúng ta thầm xin lỗi những ai đă chịu đau khổ v́ những việc ḿnh đă vô t́nh hoặc cố ư gây ra.

Trong cuộc sống hằng ngày, đôi khi chúng ta bị ai đó làm khổ mà không có lư do ǵ chính đáng cả, ví dụ như cứ kiếm cớ mắng mỏ, gây gổ, làm tổn hao tiền, của cải của chúng ta v.v.. Ḿnh nên cho rằng ở một quá khứ nào đó, chính ḿnh đă làm tất cả những điều ấy đối với người đó. Đồng thời, ta hăy đặt ḿnh vào vị trí của người đó để mở ḷng ḿnh ra và cảm thông được sự đau khổ khi xưa họ đă chịu. Sau đó ch́m vào trong “Tĩnh Lặng” và xin lỗi họ. Sau khi đă bày tỏ ư hối hận và xin lỗi như trên, ta dùng pháp thiền Tại và Hiện của cấp ba (vào “Tĩnh Lặng” bằng cách hợp nhất “Thân, Tâm, Trí”) ít nhất 30 phút. Sự “Tĩnh Lặng” càng sâu và “Trí” càng yên tỉnh th́ hiệu quả càng cao. Đây là một trong những cách hóa giải các duyên nghiệp từ quá khứ rất hữu hiệu.

Đặc Trưng Của Pháp Tại và Hiện

Pháp thiền Tại và Hiện có một vài tính chất quan trọng so với các pháp thiền khác.

  Không Đấu Tranh

Trong khi các phương pháp thiền khác dùng “trí” để kiềm chế chính nó, pháp thiền Tại và Hiện tránh đấu tranh với cái trí. Sau khi hướng dẫn cái “trí” ngồi yên, nghỉ ngơi ở một vị trí nhất định nào đó, thiền sinh buông xả hoàn toàn: thân bất động, trí trống rỗng: không chăm chú, không theo dơi, không trói buộc hay chiêm nghiệm ǵ cả. Điểm không đấu tranh này là một phẩm chất làm cho phương pháp này rất hữu hiệu trong việc xử lư với cái trí ồn ào của ḿnh.

Tĩnh Lặng và Thức Giác

Chẳng những pháp Tại và Hiện nhấn mạnh việc không đấu tranh mà c̣n nhấn mạnh luôn cả việc Tĩnh Lặng nên không theo dơi các nhận thức hoặc các hành động như những pháp thiền khác. Thiền quán hay các loại thiền “thức giác” đ̣i hỏi thiền sinh “theo dơi” hoặc “ư thức” tư tưởng, hành động hay hơi thở của họ. Pháp Tại và Hiện làm ngược lại - thay v́ theo dơi cái trí hay cơ thể đang trong thể động, bạn lại lờ mờ ư thức sự Tĩnh Lặng sâu lắng của một cái trí đang ngủ yên ở một vị trí được chỉ định. Một thiền giả nhận xét: “Các pháp khác th́ nh́n ra ngoài c̣n Tại và Hiện th́ nh́n vào trong”.

Thời Gian và Hiệu Quả

Pháp Tại và Hiện đ̣i hỏi ít thời gian và bạn có thể đạt được sự Tĩnh Lặng sâu lắng trong thời gian rất ngắn. Nếu thực hiện đúng theo cách hướng dẫn, chỉ vài ngày là sẽ đạt được sự Tĩnh Lặng ngay. Có người đạt được như vậy chỉ trong ṿng vài phút thôi. Trong ṿng vài tuần, thiền sinh đă có thể mang theo sự Tĩnh Lặng này vào đời sống xă hội thường nhật.  

Thời gian tuy ngắn nhưng vẫn không hề làm giảm đi hiệu quả của phương pháp thiền. Sự “tĩnh lặng” mà thiền sinh đạt được theo phương pháp Tại và Hiện có tính chất đổi đời.

Đơn Giản

Pháp thiền Tại và Hiện đơn giản và dễ thực hành, tốn ít th́ giờ, không cần có học thức cao, không tốn kém, không cần phải có người hướng dẫn. Hướng dẫn cho người khác cũng rất dễ dàng, người nào thực tập được rồi đều có thể hướng dẫn cho người khác trong chốc lát.

Hài Ḥa

Phương pháp Tại và Hiện này c̣n có tính cách trung dung và bổ sung nên nó hài ḥa với tất cả truyền thống tâm linh hoặc tôn giáo. Nó hài ḥa cả với cuộc sống thế tục, không theo một đạo giáo nào. Pháp thiền giúp cho ta sự sáng suốt ở cả trí năo lẫn tâm linh, khiến chúng ta được tự do theo đuổi và thậm chí c̣n giúp ta đi qua những con đường mà chúng ta đă chọn. Hạnh phúc vĩnh hằng là một mục tiêu chung của con người, một mục tiêu không thuộc một truyền thống riêng lẻ mà là thuộc về tất cả mọi người ở khắp mọi nơi.

Từ Bi và Ḥa B́nh Thế Giới

Ch́a khóa Tại và Hiện không những mang đến sự an lạc nội tại mà c̣n giúp ta phát triển ḷng từ bi và t́nh thương yêu. Ta chỉ có thể xây dựng ḥa b́nh thế giới sau khi chính bản thân ta đă phát triển được ḷng từ bi và sự an b́nh nội tại.  

Chương Ba

Thay Đổi Cách Nh́n

Trong chương này, chúng tôi tŕnh bày những cách nh́n mà chúng tôi cảm thấy có lợi ích cho việc làm vơi bớt đau khổ. Những mẩu chuyện này không có ngụ ư là những quy tắc hay hướng dẫn ǵ cả. Ngược lại, mục tiêu chính của cuốn sách là giúp b