Trại Lực lượng Đặc biệt A Shau: Nơi chào đời của thuyết điểm nóng dioxin

(Ảnh: Larry Wagoner - 1969)

 

“ĐIỂM NÓNG” DIOXIN Ở VIỆT NAM:

TỪ LƯ THUYẾT ĐẾN THỰC TẾ

Nguyễn Minh Quang, P.E.

Tháng 1 năm 2007


PHẦN MỞ ĐẦU

 

Tiếp theo sau Hội nghị Khoa học Hỗn hợp Việt-Mỹ về Ảnh hưởng của Chất da cam/dioxin lên Sức khỏe và Môi trường, được tổ chức tại Hà Nội, Việt Nam từ ngày 3 đến 6 tháng 3 năm 2002, đại diện của hai chánh phủ đă đạt đến thỏa thuận về những công tác nghiên cứu trong tương lai, được ghi trong biên bản ghi nhớ (memorandum of understanding (MOU)) kư kết ngày 10 tháng 3 năm 2002.  Những công tác nầy bao gồm việc nghiên cứu trực tiếp ảnh hưởng của việc tiếp xúc với dioxin đối với sức khỏe con người và ảnh hưởng của chất da cam/dioxin đối với môi trường và hệ sinh thái.  Việc nghiên cứu sẽ ưu tiên nhắm vào dân số đang tiếp xúc nhiều với dioxin, chẳng hạn như sinh sống gần các “điểm nóng,” và nhắm vào việc xác định, định tính (characterization), và điều trị (remediation) các “điểm nóng.”

 

 

Theo biên bản ghi nhớ, “điểm nóng” là những nơi có mức độ dioxin ở trong đất cao.  Một vài nơi đă được xác định, c̣n những nơi khác được xem như là hiện hữu, nhưng vị trí của chúng chưa được xác định.  Hai nghiên cứu được thỏa thuận để tiến hành bao gồm việc nghiên cứu hệ sinh thái và phục hồi rừng suy thoái, chẳng hạn như rừng Mă Đà, và việc nghiên cứu để xác định, định tính, và điều trị những điểm nóng, chẳng hạn như phi trường Đà Nẳng (1).  Hai địa điểm nầy do các khoa học gia Việt Nam đề nghị.

 

 

Đại diện hai chánh phủ tại Hội nghị ở Hà Nội năm 2002

 

 

Đây không phải là lần đầu tiên những “điểm nóng” dioxin ở Việt Nam được đề cập đến.  Chúng đă được công bố vào năm 1998 sau các nghiên cứu hỗn hợp giữa Hatfield Consultants Ltd. ở West Vancouver, Canada (HCL) và Ủy ban quốc gia điều tra về hậu quả chất độc hóa học dùng trong chiến tranh Việt Nam (Ủy ban 10-80) để xác định mức độ dioxin trong môi trường Việt Nam (2).  Chúng là tiêu điểm của cái gọi là “thuyết điểm nóng Hatfield” và là chủ đề của nhiều phúc tŕnh và bài viết do HCL biên soạn (3-6).  Có lẽ v́ lư do đó, HCL đă được Ủy ban quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam (Ủy ban 33) của chánh phủ Việt Nam mướn để nghiên cứu “... nhằm ngăn chận dioxin lan rộng chung quanh phi trường Đà Nẳng, và đánh giá khả năng bảo vệ sức khỏe của người dân sinh sống trong vùng phụ cận.” (7)  Các nghiên cứu nầy do Ford Foundation tài trợ.

 

Những “điểm nóng” dioxin có thật sự hiện hữu ở Việt Nam hiện nay hay không?  Nếu có, chúng “nóng” đến mức độ nào?  Bài viết nầy nhằm mục đích trả lời hai câu hỏi đó.

 

THUYẾT ĐIỂM NÓNG

HATFIELD

 

Theo HCL, tất cả các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ được xem như là (theorized) những điểm nóng dioxin ở Việt Nam.  Thuyết nầy dường như được h́nh thành sau khi 2,3,7,8-trichlorodibenzo-p-dioxin (dioxin, TCDD, hoặc T4CDD) được t́m thấy trong một mẩu đất lấy ở trại Lực lượng Đặc biệt A Shau năm 1997.  Mẩu đất có nồng độ 901,2 phần ức (parts per trillion (ppt)) Tổng TEQs (Total Toxicity Equivalents), vượt quá 350 ppt Tổng TEQs, là tiêu chuẩn để bảo vệ sức khỏe con người cho đất nông nghiệp, thổ cư, và công viên ở Canada (8).  Mặc dù nồng độ dioxin trong các mẩu đất lấy ở cùng vị trí trong năm 1999 không vượt quá 350 ppt Tổng TEQs, HCL vẫn duy tŕ thuyết điểm nóng v́ “... cho dù một căn cứ được xem là không ô nhiễm nghiêm trọng, căn cứ đó vẫn có thể ‘nóng’ nếu vị trí chính xác của các khu vực Ranch Hand được xác định và phân tích.” (6)

 

Tổng TEQs được dùng để đánh giá nguy cơ của việc tiếp xúc với một hỗn hợp (combination) bao gồm các hợp chất họ dioxin (dioxin-like compounds).  Nó là tích số của nồng độ của từng hợp chất họ dioxin, Ci, với hệ số độc tố tương đương với dioxin, TEFi (TCDD toxicity equivalency factor), cho hợp chất đó. Tổng TEQs là tổng số của mỗi TEQs của từng hợp chất:

Tổng

 

Hatfield Consultants Ltd. cho rằng h́nh thức ô nhiễm TCDD quan sát

trong thung lũng A Lưới [nồng độ trong đất vượt quá tiêu chuẩn 350 ppt

TEQs của British Columbia (Canada)] là khuôn mẫu cho t́nh trạng

ô nhiễm ở khắp miền Nam Việt Nam, nơi có vô số bồn chứa TCDD

hiện hữu trong đất ở các căn cứ quân sự cũ của Mỹ.

“Trong nghiên cứu của chúng tôi, các căn cứ quân sự được xem là

các điểm nóng dioxin dựa trên mức độ dioxin của mẩu đất lấy từ

các địa điểm ở gần mỗi căn cứ.  Như đă tŕnh bày, các điểm

ô nhiễm ‘chính’ th́ chưa được xác định/phân tích; do đó, dù một căn cứ

được xem như không ô nhiễm nghiêm trọng, căn cứ đó vẫn có thể ‘nóng’

nếu vị trí chính xác của khu vực Ranch Hand được xác định và phân tích.

Một căn cứ quân sự cũ của Mỹ ở Việt Nam không được xếp vào loại ‘nóng’

không có nghĩa là nó không bị ô nhiễm; nó chỉ có nghĩa là

ô nhiễm nghiêm trọng chưa được xác định v́ thiếu dữ kiện (trong nghiên

cứu nầy, nghiêm trọng được định nghĩa là ≥ 190 pg/g [ppt] TCDD).”

“Thuyết điểm nóng Hatfield” được tŕnh bày khá chi tiết trong nhiều bài viết chuyên môn của HCL.  “Những địa điểm có mức độ dioxin trong đất cao có thể gọi là ‘điểm nóng’ chất da cam/dioxin.  Chúng tôi chọn đất, một bộ phận của môi trường ở thung lũng A Lưới, như là một yếu tố để xác định các điểm nóng.  Nếu ô nhiễm đất ở thung lũng là tiền đề của ô nhiễm thực phẩm và con người hiện nay, th́ đất phải được dùng như là yếu tố chính yếu trong việc xác định một điểm nóng.” (4)

 

“Các điểm nóng xác định bởi Hatfield đang hiện diện, đó là đất có mức độ TCDD rất cao v́ tiếp nhận nhiều TCDD hơn trong thời gian chiến tranh.  Điều quan trọng là những điểm nóng Hatfield không phải là vùng rừng rậm bạt ngàn, mục tiêu của các phi vụ thường xuyên của Chiến dịch Ranch Hand, ám số của chương tŕnh phun thuốc khai quang của Quân đội Mỹ...  Những điểm nóng hiện nay là đất nơi chất da cam bị ṛ rỉ, được xịt từ bồn chứa gắn trên xe, kể cả việc phun thuốc chung quanh các căn cứ, v.v., cho nên đất ở đây có mức tiếp nhận dioxin nhiều hơn so với đất ở vùng bị phun thuốc từ trên không.  Nồng độ TCDD cao nhất được t́m thấy trong các mẩu đất lấy ở trại gia binh bên trong một căn cứ cũ của lực lượng đặc biệt Mỹ ở thung lũng A Lưới (Dwernychuk et al., 2002).  Hai căn cứ khác trong thung lũng, được sử dụng trong một thời gian ngắn hơn, cũng có mức độ TCDD trong đất cao hơn những vùng bị phun thuốc từ trên không...  Các căn cứ Ranch Hand ở Biên Ḥa và Đà Nẳng là những điểm nóng quan trọng điển h́nh.  Nồng độ TCDD trong đất ở Biên Ḥa được ghi nhận lên đến 1,2 triệu phần ức (ppt) (Schecter et al., 2001).  Tài liệu mật [anecdotal] từ các khoa học gia Việt Nam cho thấy mức độ dioxin trong đất ở Đà Nẳng có thể lên đến vài trăm ngàn ppt.” (5)

 

“Các căn cứ không quân cũ của Mỹ ở Đà Nẳng, Phù Cát, và Biên Ḥa có thể được xem như là những ‘điểm nóng’ quan trọng v́ nồng độ TCDD quan sát được ở ‘hạ lưu” của các địa điểm t́nh nghi là khu vực Ranch Hand.  Trong nghiên cứu nầy, các ‘địa điểm t́nh nghi chính yếu’ chưa được trực tiếp phân tích v́ chánh quyền Việt Nam không cho phép.  Tuy nhiên, những trị số TCDD rất cao (Bảng 1), cho thấy sự quan trọng của chất da cam trong toàn thể độc tố của các mẩu đất hoặc bùn, v́ TCDD phát xuất từ chất da cam...  Một căn cứ quân sự cũ của Mỹ ở Việt Nam không được xếp loại ‘nóng’ không có nghĩa là nó không bị ô nhiễm; nó chỉ có nghĩa là ô nhiễm nghiêm trọng chưa được xác định v́ thiếu dữ kiện (trong nghiên cứu nầy, nghiêm trọng được định nghĩa là ≥ 190 pg/g [phần ức hay ppt] TCDD).” (6)

 

TAI NẠN THUỐC KHAI QUANG TRONG THỜI CHIẾN

 

Những tai nạn liên quan đến việc sử dụng thuốc khai quang trong cuộc chiến Việt Nam; chẳng hạn như ṛ rỉ từ bồn chứa, xả khẩn cấp hoặc ṛ rỉ từ máy bay Ranch Hand, và thiệt hại về cây ăn trái và hoa màu; được báo cáo trong nhiều tài liệu mật.  Những tài liệu nầy; gồm có biên bản ghi nhớ, ghi chú, và phúc tŕnh để báo cáo kết quả điều tra tai nạn; vừa được giải mật và công bố qua Trung tâm Sưu tầm Tài liệu của Quân vụ Hoa Kỳ (Center for Unit Records Research of the US Armed Services (USAS/CURR)) ở Springfield, Virginia.  Một số tai nạn liên quan đến thuốc khai quang đáng chú ư được mô tả tóm tắt dưới đây.

 

Ṛ rỉ thuốc khai quang ở Căn cứ Không quân Biên Ḥa

 

 

Căn cứ Không quân Biên Ḥa là căn cứ lớn nhất trong số 5 căn cứ vận hành của Chiến dịch Ranch Hand bao gồm Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhứt (Sài G̣n), Đà Nẳng, Nha Trang, và Phù Cát (Qui Nhơn).  Hầu hết các phi vụ khai quang Ranch Hand thực hiện từ tháng 12/1966 đến tháng 07/1970 đều xuất phát từ căn cứ nầy (9).

 

Vị trí của khu vực Ranch Hand ở Căn cứ Không quân Biên Ḥa

 

Theo biên bản ghi nhớ của Trung tá Keith W. West, Tư lệnh Phi đoàn Đặc nhiệm (SOS) 12th của Chiến dịch Ranch Hand ở Căn cứ Không quân Biên Ḥa, các vụ ṛ rỉ thuốc khai quang xảy ra từ đường ống ngầm của hệ thống tồn trữ và phân phối mới vừa hoàn tất vào ngày 14 tháng 1 năm 1970.  Hệ thống được xây dựng để có thể bơm 3 loại thuốc khai quang (trắng, xanh, và da cam) từ các bồn chứa vào các máy bay Ranch Hand đậu ở khu vực tiếp liệu và bảo tŕ.  “Đường ống ngầm bằng plastic có thể chịu một áp suất lên đến 300 PSI [pounds per square inch].  Áp suất tối đa dùng bơm thuốc khai quang lên máy bay vào khoảng 45 đến 65 PSI.  V́ tất cả đường ống đều nằm dưới mặt đất, ṛ rỉ chỉ được phát hiện khi áp suất trong đường ống bị giảm bất thường.  Số lượng của mỗi bồn chứa được theo dơi hàng ngày bằng số lượng c̣n trong bồn trừ số lượng bơm lên máy bay.  Dường như đây là phương pháp duy nhất để xác định xem có ṛ rỉ hay không [?].” (10)

 

Ngày 15 tháng 1 năm 1970, gần 500 gallons chất màu trắng ṛ rỉ từ mối nối chữ T của đường ống ngầm.  “Không có thuốc khai quang chảy tràn trên mặt đất; tất cả số lượng ṛ rỉ thấm vào đất ở chung quanh chỗ bị bể.” (10)  Ngày 5 tháng 2 năm 1970, một mối nối chữ L của đường ống ngầm bị sút khiến khoảng 1.000 gallons chất da cam bị ṛ rỉ, nhưng chi tiết không được báo cáo.  Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 2 năm 1970, một mối nối khác của đường ống ngầm lại bị sút.  Gần 500 gallons chất da cam bị thất thoát, nhưng chi tiết không được báo cáo.

 

Tai nạn nghiêm trọng nhất có lẽ xảy ra ngày 28 tháng 2 năm 1970 với khoảng 7.500 gallons chất da cam ṛ rỉ từ một lỗ thủng có đường kính ½ inch trên đường ống ngầm.  “Vào khoảng 7:30 sáng ngày 1 tháng 3 năm 1970, Thiếu tá Iorcross, 12SOS được Trung sĩ Webb của Ban Thuốc khai quang thông báo việc ṛ rỉ trong hệ thống bơm thuốc khai quang.  Công binh được thông báo để đào đường ống sau khi đă đóng tất cả các khóa (valves) của hệ thống.  Một lỗ thủng có đường kính ½ inch được t́m thấy trên một đoạn ống thẳng giữa khu S-13 và S-12 (tham khảo sơ đồ tổng thể của BHAB, RVN [Căn cứ Không quân Biên Ḥa, Việt Nam Cộng Ḥa] trong hồ sơ của Chỉ huy trưởng Bảo tŕ, 3TFW [Vùng III Chiến Thuật]).  Vào lúc nầy, sĩ quan trực của Phi đoàn Đặc nhiệm 12th được thông báo và số lượng thuốc khai quang trong bồn chứa chất da cam được kiểm tra.  Sau khi khấu trừ số lượng sử dụng trong đêm qua, 3 feet (khoảng 7.500 gallons) thuốc khai quang được xác nhận là thất thoát.

 

 

Một bồn chứa thuốc khai quang

ở Căn cứ Không quân Biên Ḥa (9)

 

Việc ṛ rỉ được sửa chữa bằng cách gắn mối nối Dresser chung quanh nơi đường ống bị hư hại.  Một bờ đất được đấp ngay lập tức để chận nước chảy tràn trên mặt đất (ước lượng khoảng 100 gallons).

 

Sau đó một đập làm bằng đất lấy tại chỗ được xây ngay phía dưới đường ống ngầm để chận nước chảy tràn nếu đường ống bị bể trong tương lai.  Ngày 7 tháng 3, Bác sĩ của Phi đoàn được liên lạc để xác định phương pháp lấy mẩu nước và đất ở nơi bị ô nhiễm thuốc khai quang.  Những biện pháp kiểm soát tại chỗ đă được thay đổi để đóng tất cả các khóa của hệ thống vào ban đêm, ngoại trừ trường hợp phải bơm thuốc lên máy bay.  V́ tất cả những tín hiệu của hệ thống (áp suất của bơm và lưu lượng của thuốc khai quang ở ṿi) vẫn b́nh thường, biện pháp nầy được xem là cần thiết để tránh những tai nạn tương tự trong tương lai.

 

Khoảng 2 tuần sau, Đại úy Altum, MACV J3-09, được báo cáo trong một chuyến thăm viếng của Ông.  Tai nạn ṛ rỉ, những biện pháp khắc phục, và nhu cầu lấy mẩu để xác định ảnh hưởng của đường ống bể được thảo luận.  Bác sĩ của Phi đoàn đề nghị Quân Y Biên Ḥa phụ trách vấn đề lấy mẩu.  Họ cho biết, căn cứ không quân gần nhất có khả năng thử nghiệm 2-4D và 2-4-5T là Căn cứ Không quân McCellan.  Trung sĩ Larson bên Quân Y đă liên lạc với Phi đoàn Đặc nhiệm 12th vào ngày 22 tháng 3 năm 1970 để thảo luận phương pháp lấy mẩu nước.

 

Đập đất đă ngăn chận được tất cả nước và thuốc khai quang c̣n sót lại.  Chất lỏng không c̣n chảy vào hệ thống thoát nước nữa.  Tuy nhiên, nơi xảy ra tai nạn hiện đang ngập đầy nước nên đập đất sẽ không c̣n hiệu quả trong mùa mưa.  Một số lượng nước đă được xả qua đập và để cho thấm vào đất cát trong mương thoát nước.

 

Tai nạn được báo cáo lên Đại tá Whiteside, MACV J3-09, ngày 21 tháng 3 năm 1970.  Theo đề nghị của Ông, Công binh sẽ thay thế tất cả ống plastic bằng ống sắt và be bờ chung quanh các bồn chứa để ngăn chận tất cả thuốc khai quang trong trường hợp các bồn chứa bị bể.” (10)

 

Những nơi bị thiệt hại v́ thuốc khai quang

trong vùng phụ cận Căn cứ Không quân Đà Nẳng (12)

Ảnh hưởng đối với môi trường của các vụ ṛ rỉ nầy đă được điều tra và mô tả trong một biên bản ghi nhớ do Pacific Technical Analysts – Subsidiary soạn ngày 29 tháng 4 năm 1970.  “Các vụ ṛ rỉ đă làm một vài nơi của nền đất đấp (artificial fill) và đất cát lắng ở mương thoát nước bị băo ḥa.  Vụ ṛ rỉ từ đường ống bể ngày 1 tháng 3 năm 1970 làm băo ḥa một phần của nền đất đấp, và một phần giữa nền đất đất đấp và lớp đất cát pha sét ở bên dưới.  Các mẩu đất lấy ở vách mương khảo sát (exploration trench), được đào giữa nơi ṛ rỉ và đường thoát nước, bị ô nhiễm thuốc khai quang da cam với nồng độ thay đổi từ 0,2 cho đến 106,1 phần triệu (parts per million (ppm)).  Sự phân phối các mẩu nầy cho thấy thuốc khai quang bị giới hạn trong nền đất đấp và khoảng 1 đến 2 inches phần trên cùng của lớp đất cát pha sét.  Nồng độ trong đất lên đến 10 phần triệu, được t́m thấy trong các mẩu lấy từ lớp đất cát pha sét hoặc lớp đất sét có nhiều màu (mottled clay) nằm bên dưới nền đất đấp từ 1 đến 3 feet, có lẽ do sự lan truyền cơ học (mechanical spreading) trong khi đào mương khảo sát.  Thuốc khai quang khó có thể lan xa hơn một vài inches trong lớp đất cát pha sét nằm bên dưới nền đất đấp trong suốt thời gian kể từ khi xảy ra vụ ṛ rỉ.” (11)

 

Thiệt hại cây ăn trái và hoa màu trong vùng phụ cận Căn cứ Không quân Đà Nẳng