
Về
Một Quăng Đời của Trịnh Công Sơn
Nguyễn Thanh Ty
(V́ bài
quá dài nên chia ra làm 2 phần để dễ chuyển mà
thôi).
Phần
I:
Trịnh
Công Sơn đă nằm xuống. Cát bụi trở về
với cát bụi. Xong một kiếp người. Nhưng
đằng sau ông, vấn đề vẫn chưa xong.
Người khen ông rất nhiều. Kẻ chê ông cũng
lắm. Dù khen hay chê, mọi người đều
phải công nhận tài năng âm nhạc của ông. Cái
đó đă hẵn. Không bàn ở đây. Vấn đề
đang tranh cải được đặt ra ở
đây: Trịnh công Sơn có là Cộng Sản hay không? Hay
chỉ là nạn nhân đi giữa hai lằn đạn?
Như ông Trịnh Cung và một số người đă
nêu!
Người
viết bài này có dịp gần gũi và sống chung
với Trịnh Công Sơn một thời gian, từ
năm 1962 đến 1967, nên biết được đôi
điều về cuộc đời thường của
nhạc sĩ họ Trịnh này. Nhân ngày ông qua đời,
một số thân hữu yêu cầu tôi viết lại
những kỷ niệm vui buồn với người quá
cố để anh em hiểu thêm về một thiên tài âm
nhạc. Và luận xem thử Trịnh Công Sơn có là
Cộng sản hay thiên Cộng hoặc đi giữa?
Tôi
chưa hề viết văn. Mong rằng những ḍng thô
thiển dưới đây giúp ích được phần
nào cho những ai thích sưu tầm tài liệu về
cuộc đời người nghệ sĩ tài hoa bạc
mệnh này. Miễn chấp cho chuyện chữ nghĩa.
Theo
chỗ tôi biết, trong số những người
viết về cuộc đời của nhạc sĩ
họ Trịnh trong thời gian dạy học, chỉ có
bốn người mới có thể có nhiều tài liệu
sống về Trịnh Công Sơn, c̣n hầu hết
đều cưỡi ngựa xem hoa, hoặc cặm
cụi mày ṃ, đào xới trong các bài viết của
nhiều người, cóp chỗ này một ít, chỗ kia vài
chi tiết và đem các ca từ của họ Trịnh ra,
sợi tóc chẻ làm tám, rồi dùng ng̣i bút thần kỳ hô
phong, hoán vũ, tô lục, chuốc hồng mà thôi.
Bốn
người đó là: Hoàng Phủ Ngọc Tường - Khánh
Ly - Trịnh Cung - Đinh Cường.
Thời
gian Trịnh công Sơn c̣n sống, báo chí hải ngoại
viết rất nhiều về người nhạc sĩ
này, cả khen lẫn chê, nhiều khi đến độ
gay gắt. Tôi cố t́m đọc những bài của ông
Đinh Cường để xem lập trường
của ông, nhưng không thấy. Mới đây ông Nguyễn
văn Liễu tức họa sĩ Trịnh Cung có
phát biểu một số điều tại Cali trong
dịp tưởng niệm Trịnh Công Sơn. Trong đó
có một số sự việc ông không phản ảnh
đúng sự thật. Tôi nghĩ rằng ông quên hoặc ông
suy diễn.
Măi đến khi tờ Hợp Lưu,
số 59, phụ trang đặc biệt Trịnh Công
Sơn "Một cơi đi về", tôi mới
được đọc một bài duy nhất của ông
Đinh Cường. Cả hai ông Trịnh Cung và Đinh
Cường đều nói là bạn lâu năm với
Trịnh Công Sơn, từng cưu mang, chia ngọt, xẻ
bùi cùng nhau cho đến ngày nhạc sĩ họ Trịnh
từ giă cuộc đời. Nhưng tuyệt nhiên, người
ta không thấy hai ông đả động ǵ tới
vấn đề Trịnh Công Sơn có là Cọng Sản
hay không?
Ca
sĩ Khánh Ly hết lời ca tụng người nhạc
sĩ này là điều đương nhiên, dễ hiểu.
Nếu không có nhạc Trịnh Công Sơn chắp cánh cho
Khánh Ly bay cao, th́ suốt đời Khánh Ly chỉ là một
cô bé "nhếch nhác", như lời ông Cung mô tả,
ở tại Đà Lạt mà thôi. Ngược lại,
nếu nhạc Trịnh Công Sơn không nhờ Khánh Ly
"lăng xê chùa" trên Đài Phát Thanh Đà Lạt, ṛng
ră ba năm liền, từ 1964 đến 1967, và "đi
chân đất" về Sài G̣n hát miễn phí cho sinh viên nghe
th́ liệu nhạc của họ Trịnh có
được phổ biến rộng răi như ngày nay
không? Cần nhắc ở đây là trước 1964, từ
cái thuở mới mười bảy tuổi, Trịnh Công
Sơn đă có những bản nhạc rất hay như
"Ướt Mi", "Thương Một
Người", "Biển Nhớ", "Nh́n
Những Mùa Thu Đi" mà nào có tăm tiếng ǵ. Có
chăng là những bạn bè trong giới Sư phạm
hoặc một vài thân hữu chuyền tay nhau hát!
Người
có thẩm quyền nhất để giải đáp
thắc mắc của nhiều người liệu
Trịnh Công Sơn có là Cộng Sản hay không chính là Hoàng
Phủ Ngọc Tường. Nhưng đến giờ này,
tôi không thấy ông lên tiếng xác nhận. Hoặc có mà tôi
không biết chăng?
Hai
Năm Tại Trường Sư Phạm Qui Nhơn 1962-1964
Tôi
học chung một khóa Sư phạm với Trịnh Công
Sơn. Khóa I, ngày 22 tháng 4 năm 1962, khóa đầu tiên
được mở ra tại thành phố Qui Nhơn,
tỉnh B́nh Định. Tên gọi khóa học là
"Thường Xuyên", học hai năm, để phân
biệt với "Khóa Cấp tốc", học một
năm. Tiêu chuẩn tối thiểu để nộp
đơn là Tú Tài I. Tuy nhiên khóa đầu tiên ấy đa
số đă có Tú Tài II. Một vài người đă có
một, hai chứng chỉ Đại học. Sĩ số
giáo sinh là ba trăm người. Đa phần là
người Huế, tỷ lệ có lẽ chiếm 60%.
Số c̣n lại răi rác ở các tỉnh Quảng Nam,
Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú Yên, Khánh Ḥa... lên tận các
tỉnh cao nguyên Đà Lạt, Lâm Đồng, PleiKu, KonTum...
Trịnh
Công Sơn theo ban Pháp văn. Tôi theo ban Anh văn. Hiệu
trưởng là thầy Đinh Thành Chương. Ông này
rất tôn sùng tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. Mỗi
sáng thứ hai, chào cờ, Ông thường có những bài
phát biểu trước giáo sinh, ca tụng công đức
Ngô Chí Sĩ hết lời. Ngược lại, em Ông, giáo
sư Đinh Thành Bài lại thiên Cộng. Trong những
giờ dạy Sư phạm lư thuyết, thầy
thường xen vào những lời ca ngợi chế
độ Cộng Sản.
Năm
1963, phong trào Phật Giáo nổi lên, lật đổ chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm. Một nhóm giáo sinh tổ
chức tố khổ thầy Đinh Thành Chương,
buộc Ông phải từ chức. Trịnh Công Sơn
cũng bị lôi kéo theo trong vụ này. Mấy tuần sau,
Bộ Giáo Dục phải bổ nhiệm giáo sư Mẫn
mới từ Hoa Kỳ về, thay thế thầy
Chương, nội vụ mới êm.
C̣n
nhớ, ngày nhập học đầu tiên, thầy Đoàn
Nhật Tấn, dạy môn tâm lư giáo dục, đọc
tặng học tṛ hai câu thơ:
Dưa
leo chấm với cá kèo,
Bởi
con nhà nghèo mới học Normal! (Sư phạm)
Đúng vậy!
Đa số chúng tôi lúc ấy đều là con nhà nghèo.
Hoặc học hành dang dở, hoặc cha mẹ không
đủ khả năng tài chánh để gửi con ra
Huế hay vào Sài G̣n tiếp tục học lên Đại
học. V́ vậy chúng tôi đều cố thi vào Sư
phạm để chắc chắn rằng sau hai năm
sẽ có công ăn việc làm cho bản thân và có thể giúp
gia đ́nh. Tưởng cũng nên nói rơ ở đây tại
sao chúng tôi cố thi vào Sư phạm. Thời gian đó hai
ngành Y Tế và Giáo dục rất thiếu nhân viên. Khóa nào
vừa đào tạo xong là được bổ nhiệm
đi làm ngay. Trong khi các ngành khác như Công Chánh, Nông-Lâm-Súc,
Kỹ Thuật Phú Thọ...ra trường, nằm nhà
mấy năm vẫn chưa được bổ
nhiệm.
Có
một nghi vấn ở đây: Không biết ông Trịnh
Cung vin vào đâu mà bảo rằng Trịnh Công Sơn vào
được trường Sư phạm Qui Nhơn
để núp bóng là nhờ hai ông Tường và Kha giúp
đỡ. Có lẽ ông Cung đă nghe ông Tường, ông Kha
hay là Sơn kể lại chăng?
Nói thêm một chút về chuyện thi vào
Sư phạm. Đề thi thật ra không khó, nhưng
để lọt được vào cửa ải, mỗi
thí sinh phải chọi lại ít nhất mười
đối thủ. Tính từ Quảng Trị, Trung Trung
Phần đến miền cao nguyên hơn mười
bốn tỉnh, Bộ chỉ chọn có ba trăm
người. Vậy theo tiết lộ của ông Cung,
người ta nghĩ đến hai vấn đề:
1/ Ông Tường hoặc ông Kha đă
thi dùm cho Sơn? Hoặc 2 ông có chân trong Ban Giám khảo,
chấm cho Sơn đậu?
-
Tại sao lại phải vào trường Sư Phạm núp
bóng mà không là Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật
Huế? Nơi mà ông Cung với ông Cường theo học.
Ông
Đinh Cường từng xác nhận là Sơn có tài
hội họa, vậy th́ thi vào Mỹ thuật có khó
khăn ǵ, thi chi vào Sư phạm để phải nhờ
đến sự giúp đỡ của hai ông Tường
và Kha?
Thứ
nữa, ông Cung chê nghề dạy học không xứng
đáng với tài năng của Sơn (lúc ấy?). Và ông
c̣n cho biết đă cưu mang Sơn.
Tôi
không biết ông nói chữ "cưu mang" với
một nghĩa nào. Theo chỗ tôi biết, đem chỉ
số lương ra so sánh th́ lương của Sơn
phải hơn hẵn.
2/
Trịnh Công Sơn vào Sư Phạm để núp bóng.
Cả hai ông Cung và Cường đều nói như
thế. Vậy Trịnh Công Sơn vào Sư Phạm
để núp ai? và núp cái ǵ? Sẽ có hai giải thích
được đặt ra cho hai chữ "núp bóng"
a/
Sơn vào Sư Phạm để tạm thời trốn
lính.
b/ Hoàng
Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Nguyễn Văn
Liễu (Trịnh Cung) và Đinh Cường đă có mưu
đồ gài Sơn vào Sư Phạm để thực
hiện sách lược "học đường
vận"?
Giải
thích một: không vững. Lúc đó Sơn đă có Tú Tài I.
Đâu phải ở vào trường hợp "Rớt tú
tài anh đi trung sĩ". Sơn có thể theo học
bất cứ một trường Trung Học tư nào
để thi lấy Tú Tài II vẫn được hoăn
dịch theo luật định. Nếu cuối năm, thi
hỏng, th́ a-lê, mời anh vào Thủ Đức, vác Garant M1
đi "ắc ê" chín tháng quân trường. Sau đó
mang lon chuẩn úy, đi "mút chỉ cà tha", bốn
vùng chiến thuật, trả nợ nước non. C̣n
nếu anh bợ được cái Tú Tài II, th́ anh cứ tà
tà lên Đại Học. Chí ít cũng được hoăn
dịch bốn năm nữa. Chính phủ Việt Nam
Cọng Ḥa đâu có chủ trương lùa hết trẻ,
già, trai, gái, lớn, bé đi "Xẻ dọc
Trường Sơn đi cứu nước" như
ở miền Bắc.
Ông
Cường nói v́ t́nh h́nh, thời cuộc lúc đó...
lại càng khiên cưỡng. Những ai sinh từ năm
1940 trở về trước đều biết rất rơ
rằng: Miền nam được hưởng một
thời gian mấy năm rất thanh b́nh, kể từ ngày
Ông Diệm chấp chánh (54-63) cho đến lúc Ông bị
đám "Thập nhị Sứ quân" giết.
Giải
thích hai: có lẽ thuyết phục hơn, nếu xét theo
bề dày "thành tích" Sơn đă cúc cung tận
tụy, phục vụ chế độ sau tháng Tư,
bảy lăm. Nhưng suốt những tháng, năm
sống chung với Sơn, tôi không thấy Sơn có một
hành động cụ thể nào khả dĩ gọi là có
vẽ "Việt Cộng". Trừ khoảng thời
gian giữa năm 1965, Sơn nhận được
nhiều thư từ của ông Hoàng Phủ Ngọc
Tường và tiếp theo là những cuộc gặp
gỡ, tiếp xúc bí mật tại một trang trại ở
Phim Nôm, gần Tùng Nghĩa, Đà Lạt với một nhân
vật, Sơn dấu tên. Sau đó, Sơn mới vội vă
sáng tác tập "Ca Khúc Da Vàng" trong ṿng có ba tháng hè
năm 1965.
Loại
trừ hai giải thích trên, Sơn vào Sư phạm với
một lư do hết sức đơn giản là:
Dưa
leo chấm với cá kèo.
Bởi
con nhà nghèo mới học "Sư phạm".
(Cái sĩ diện hăo
của đa số người Huế cứ mơ về
một thời vàng son làm "ôn" làm "mệ"
cố che dấu cái hiện tại suy tàn đă đành. C̣n
ông Liễu là dân Nha Trang-Cầu Đá-Chụt chính tông mà
cũng lập lờ "đánh bùn sang ao" quả là chuyện
lạ)
Nhắc
lại hai câu thơ của thầy Đoàn Nhật Tấn
đă dẫn nhập để thấy rằng lúc ấy
nhà Sơn đang lâm vào cảnh ngặt nghèo. Cha bị tai
nạn mất sớm, gia đ́nh khánh kiệt. Má Sơn
phải chật vật lắm mới nuôi nỗi đàn con
c̣n nhỏ dại. Sơn là con trưởng, phải bỏ
dở chương tŕnh học để lấy nốt cái
Bac II Philosophie, về lại Huế để phụ giúp
mẹ. Sư phạm Qui Nhơn là con đường
ngắn nhất có thể giúp Sơn đạt
được ư nguyện này. Những ngày mưa gió ủ
ê, đất nhăo, không đi ra ngoài được, nằm
khoèo ở nhà, Sơn tỉ tê kể cho tôi nghe về
cuộc đời của Sơn nhiều buồn vui
lẫn lộn. Trong đó có cả điều thất
vọng và thất t́nh về cô Diễm. Từ đó
mới có bài ca thất t́nh diễm lệ "Diễm
xưa".
Dù
bất cứ ai, vô t́nh hay hữu ư, che dấu hay huyền
thoại hóa Trịnh Công Sơn trong giai đoạn học
Sư phạm và dạy học bằng những lư do
rất "mờ mờ, ăo ăo" để đánh
hỏa mù dư luận với mục đích thần
tượng hóa đời thường của một
nghệ sĩ, cũng cần cơm ăn, áo mặc...
như mọi người, đều không giúp ích ǵ
được trong việc cung cấp tài liệu
để viết lại tiểu sử một
người nghệ sĩ tài ba được nhiều
người mến mộ. Có khi lại phản tác
dụng.
Trường
Sư Phạm và trường Kỹ Thuật Qui Nhơn
được ngân sách Mỹ tài trợ, xây cất rất
qui mô và tân kỳ. Hai trường nằm gần nhau
tại Khu Sáu, sát bờ biển, khoảng giưă
đường từ phố Gia Long đến Ghềnh
Ráng, nơi thi sĩ Hàn Mặc Tử an nghỉ giấc ngàn
thu. Qua khỏi Ghềnh Ráng là làng Qui Ḥa, làng dành riêng cho
người mắc bệnh cùi. Ở đó có nhiều bà
"xơ" hy sinh một đời, tận tụy
chăm sóc cho bệnh nhân.
Lúc bấy giờ, 1962, thành phố Qui
Nhơn hăy c̣n tiêu điều xơ xác. Ngay con
đường chính Gia Long, chạy dài từ Núi Một (Ga
xe lửa) đến bến cảng hăy c̣n nhiều ngôi nhà
vô chủ, đổ nát hoang tàn trong chiến tranh chưa có
ai dọn dẹp. Đường Lê Lợi chạy từ
trung tâm phố thẳng ra biển c̣n rất nhiều nhà
tranh, vách lá.
Vẽ
lại một vài h́nh ảnh cũ để cho thấy
chính phủ lúc ấy có dụng ư khi cho xây cất hai ngôi
trường đồ sộ tại đây. Mỗi năm
hai trường qui tụ hơn một ngàn giáo sinh và
học sinh kỹ thuật khắp nơi đổ về.
Nền kinh tế tại đây đă nhanh chóng phục
hồi.
Để
quảng bá rộng răi cho nhiều nơi biết về
trường Sư Phạm, Ban Giám Đốc nhà
trường cho thành lập một ban văn nghệ.
Trịnh Công Sơn được bầu làm trưởng
ban, chịu trách nhiệm tổng quát. Thanh Hải, phó ban
thứ nhất, trách nhiệm về nhạc. Vơ Văn Pḥng,
phó ban thứ hai, trách nhiệm về kịch. Một
vỡ kịch thơ dài 45 phút nhan đề "Tiếng
Cười Bao Tự" được dàn dựng. Tôi
được chọn để thổi sáo đệm
thơ. Nhân dịp này tôi mới biết và quen với
Trịnh Công Sơn.
Một
chương tŕnh đại qui mô gồm đủ các
tiết mục ca, múa, nhạc, kịch được Ban Văn
nghệ hoạch định. Thêm vào đó là một tổ
phụ trách ánh sáng. (Lúc đó rất hiện đại và
tân kỳ. Dùng đèn chiếu slide làm hậu cảnh thay
đổi mỗi màn tŕnh diễn khác nhau. Dùng đèn quay,
chớp chớp đổi màu rất đẹp mắt)
Buổi
tŕnh diễn được ra mắt đúng ngày "Song
Thất" năm đó, chứ không phải ngày măn khóa
như ông Đinh Cường nói.
Trong
thời gian này, Trịnh Công Sơn sáng tác trường ca
"Tiếng Hát Dă Tràng" hay gọi gọn hơn là
"Dă Tràng Ca" để làm tiết mục mở màn.
Đây là tiết mục công phu và đặc sắc
nhất. Ban hợp xướng gồm năm mươi
người gồm nam lẫn nữ do Sơn thử
giọng tất cả các mầm non văn nghệ và
chọn lọc. Anh đă khổ công tập ráo riết trong
ba tháng trời, xen kẻ giữa những giờ học,
và đă thành công vượt mức trước sự
ngạc nhiên đầy thích thú và khen ngợi của quan
khách và công chúng. Tiếng vỗ tay đă kéo dài rất lâu.
Rất
tiếc, tôi không có chân trong ban hợp xướng, nên không
thuộc trường ca này. Chỉ nhớ lơm bơm vài câu, xin
ghi lại cho vui.
Tiếng Hát Dă Tràng hay Dă Tràng Ca.
(Tiếng
vọng) Dă tràng... Dă tràng... Dă tràng...
Dă
tràng xe cát biển Đông... Dă tràng xe cát hoài công...
(Tiếng
trống Bass dồn dập, thúc dục):
Trùng
dương ơi... Trùng dương ơi vỗ sóng vào
bờ...
....(quên)...
Thôi...
c̣n ǵ nữa đâu... C̣n ǵ nữa đâu... Đời lên
cơn đau! Xuân, Hạ, Thu, Đông bốn mùa làm rét
mướt... Tôi gọi tên tôi giữa nước non ngàn...
Tôi
chỉ nhớ đại khái vậy. Hiện nay, tại
thành phố Lawrence, Mass, có anh Nguyễn Văn Tấn, Cali có
chị Hồ thị Nghị trước ở trong ban
hợp xướng, chắc c̣n nhớ. Bốn mươi
năm đă qua rồi, c̣n ǵ!
Cũng trong thời gian học Sư
Phạm, Sơn c̣n sáng tác thêm những nhạc phẩm khác
như "Biển Nhớ", "Nh́n Những Mùa Thu
Đi", "Nắng Thủy Tinh". Hầu như
tất cả giáo sinh đều biết và ngâm nga những
bài này. Ngoài ra Sơn cũng sáng tác một vài bài vui, ngắn
để chúng tôi khi đi thực tập tại các
trường dạy cho các em hát.
Tôi
xin ghi lại đây một bài tượng trưng:
Ông Tiên vui
Ông Tiên
vui,
Ông có cái
râu dài.
Đêm
ông thường ngủ yên trên đỉnh mây.
Ông Tiên
vui,
Ông
thường hay nhắc đến.
Chốn
thiên đ́nh chẳng có tháng ngày vui.
Ông Tiên
vui,
Ông có cái
căn nhà.
Trên
ngọn đồi hằng đêm Ông ghé qua.
Hôm em
lên,
Ông
chợt đi đâu vắng!
Lúc em
về, em buồn đến ngẩn ngơ.
Xin
nhắc lại ở đây, Qui Nhơn lúc ấy c̣n nghèo
lắm. Cả thành phố có mỗi quán kem duy nhất,
vừa bán kem, vừa bán cà phê, thuốc lá, bia, trà. Đó là
quán Phi Điệp, nằm trên đường Phan Bội
Châu, đối diện với hội trường Qui
Nhơn, nơi đă tŕnh diễn văn nghệ.
Mỗi
buổi chiều, chúng tôi, anh chị em nào có chút tiền c̣m
th́ kéo nhau vào quán, kêu b́nh trà, ngồi nhâm nhi nghe nhạc. Khá
một chút nữa th́ kêu một chai bia với tô ḅ viên gân,
ngầu pín của ông Ba Tàu đậu xe trước quán.
Thế là sang lắm rồi. Anh chị nào "bô xu" th́
ra biển ngồi ngắm trăng suông. Biển Qui Nhơn
là biển bùn nên cát ở đó có màu vàng xỉn trông dơ
dáy, không trắng như cát biển Nha Trang. Dọc theo
bờ biển là một hàng dương, chạy dài từ
khu quân sự đến bệnh viện Nguyễn Huệ.
Trước bệnh viện là xóm chài. Bờ biển không
có một lều quán hay kiosque nào. Ông Đinh Cường nói
cùng Trịnh Công Sơn và Bích Khê ra đó uống cà phê
ngắm trăng là nói nhầm.
Ba
Năm Tại B'lao (Bảo Lộc, Lâm Đồng)
Sau
hai năm, măn khóa, chúng tôi tốt nghiệp ra trường.
Tôi và Trịnh Công Sơn cùng bốn giáo sinh khác là Lê Thị
Ngọc Trinh (Huế), Nguyễn Văn Sang, Trương
Khắc Nhượng, Đỗ Thị Nghiên (Nha Trang) cùng
được bổ nhiệm chung một sư vụ
lệnh, đáo nhậm nhiệm sở Ty Tiểu học
Lâm Đồng. Sự vụ lệnh mang số
961-GD/NV/38/SVL tạm thời tuyển bổ do Ông Nguyễn
Hữu Quyến, Xử Lư Thường Vụ Hiệu
Trưởng Trường Sư Phạm kư ngày 14 tháng 8
năm 1964.
Sau
hai năm tập sự, chúng tôi được điều
chỉnh tuyển dụng bằng Nghị Định mang
số 596-GD/NV/BC/QĐ do XLTV Đổng Lư Văn Pḥng,
Phụ Tá Chuyên Môn, Phạm Văn Thuật kư ngày 6/5/1966.
Đến
năm 1967, chúng tôi mới được chính thức
bổ dụng bằng Nghị Định mang số
687/GD/NV/3B/NĐ kể từ ngày 01/9/1966 do T.U.N Ủy Viên
Giáo Dục Đổng Lư Văn pḥng Huỳnh Ngọc Anh kư
ngày 7/4/ 1967.
Với
chỉ số lương 320 cộng thêm phụ cấp
đắc đỏ vùng cao lúc bấy giờ, chúng tôi lănh
được năm ngàn hai trăm đồng ($5.200)
mỗi tháng, tương đương với hai lạng
rưỡi vàng Kim Thành. Vật giá lại rất rẽ.
Tiền ăn, ở mỗi tháng chỉ hết 600
đồng. Chai bia Con Cọp 3 đồng. Một dĩa
thịt ḅ lúc lắc bốn người ăn giá 7
đồng. Tô phở 3 đồng. Cà phê loại ngon,
một ly/1 đồng. Cơm bữa với ba món, 6
đồng. Thời gian từ 1964 đến 1967, chúng tôi
sống sung sướng, tiêu pha rộng răi mà vẫn c̣n
rủng rỉnh.
Tôi
từ Nha Trang lên, theo đường Nha Trang - Đà
Lạt - Bảo Lộc. Trịnh Công Sơn, từ Huế
bay vào Sài G̣n, rồi từ Sài G̣n đi xe đ̣ lên Bảo
Lộc.
Không
hẹn mà gặp lại nhau trên bến xe vắng vẻ,
thưa thớt bóng người. Lâu lâu mới thấy
dăm người Thượng lầm lũi nối
đuôi nhau, lặng lẽ rảo bước về
một bản làng nào đó. Chúng tôi nh́n nhau, ḷng thầm
nghĩ: Trời ơi! Cái thiên đường mà ḿnh
tưởng tượng khi nắm trong tay tờ Sự
Vụ Lệnh là đây sao? B'lao-Bảo Lộc là đây sao?
Một phố quận vào chiều thứ sáu sao mà vắng
lặng, buồn hiu hắt. Chuyến xe cuối cùng
đổ khách xuống đây rồi lẫn mất. Ai
cũng tản mác về nhà. Chỉ c̣n trơ lại Sơn
và tôi, trơ trọi, cô độc. Trời lại đang
mưa lâm râm, lành lạnh. Hai chúng tôi, mỗi người
một va li quần áo nhẹ tênh. Lang thang t́m người
hỏi đường đến Ty Tiểu Học Lâm
Đồng. Lúc bấy giờ, thị xă Đà Lạt
thuộc tỉnh Tuyên Đức. Lâm Đồng là một
tỉnh chỉ có vỏn vẹn hai quận là Djiring (Di Linh)
và B'lao (Bảo Lộc). Trước năm 1960, Ṭa Hành Chánh
đặt ở Di Linh. Sau dời về Bảo Lộc
được mấy năm, trước khi chúng tôi
đến.
Khi
chúng tôi t́m được đến Ty Tiểu Học th́
trời đă sụp tối mặc dù chưa tới sáu
giờ. Sương mù bốc lên từ mặt đất,
bay là là dưới chân. Ty chỉ cách bến xe non nửa
cây số. May mắn, lúc ấy bác lao công đang khóa cửa
chuẩn bị ra về. Khi biết chúng tôi là giáo viên
mới đổi đến, bác ân cần mời chúng tôi
theo bác.
-
Mấy thầy cũng may! Bác nói. Chút nữa là tôi về
rồi. Mai thứ bảy Ty nghỉ. Mấy thầy
biết trọ nơi đâu. Đi theo tôi, tôi sẽ
giới thiệu hai thầy với mấy ông giáo cũng
vừa mới đổi tới đây mấy hôm
trước.
Chúng
tôi theo chân Bác vào ngơ Tiên Dung (gọi là ngơ Tiên Dung v́
đầu ngơ có tiệm chụp h́nh mang tên ấy). Đi
sâu vào khoảng hai trăm thước, con hẽm hẹp,
trơn trợt v́ cơn mưa buổi chiều, xoai xoăi lên
dốc dần. Bác dừng chân trước một căn
nhà mái tole, vách ván. Trong nhà vẳng ra tiếng cười nói
vui nhộn của đám đông. Bác cai bước vào
trước. Tiếng huyên náo im bặt. Bác ra hiệu cho
chúng tôi vào nhà. Trong nhà chỉ có một chiếc
giường gỗ khá rộng. Trên giường bốn
mạng đang nằm, ngồi lổn nhổn. Mọi
người nh́n bác cai chờ đợi. Bác đưa tay
về chúng tôi rồi hướng về một anh lớn
nhất trong đám giới thiệu:
-
Thầy Lăng à! Mấy thầy này mới đổi tới
hồi chiều. Ty đóng cửa rồi, không tŕnh diện
được. Thầy giúp dùm cho mấy thẩy ở
tạm qua đêm được không? Nhà tôi chật quá,
không có chỗ ngủ.
Lăng
tung chăn, ngồi dậy, giọng hơi cà lăm:
-
Thế à! Được... được! Bác cứ
về! Để... để tụi này thu xếp.
Sau
khi bác cai quay lưng ra khỏi cửa, tôi với Sơn
sực nhớ ra chưa nói lời nào cám ơn sự giúp
đỡ của bác, bèn vội nói vói theo:
- Cám
ơn bác nghe!
Không
thấy tiếng trả lời. Có lẽ bác đă đi khá
xa. Chợt Lăng lên tiếng:
- -i
giời! Nhà bác ấy cũng gần ngay đây thôi! Sáng mai,
thế nào bác ấy cũng sang đây. Các anh vào đây
đă. Sao cứ đứng măi thế. Để...
để cái va li vào góc này!
Chúng
tôi theo lời anh đem hành lư đặt vào góc nhà. Thế
rồi cả bốn người bu quanh hỏi thăm
rối rít.
- Sư
Phạm Qui Nhơn hả?
- Vâng!
- À, có
anh Sang cũng Sư Phạm Qui Nhơn đây, mới tŕnh
diện hôm kia. C̣n bọn này Sư Phạm Sài G̣n. Cũng lên
trước mấy ngày thôi.
Tôi
nh́n qua Sang. Cũng dân Nha Trang, nhưng tôi chưa gặp
mặt lần nào tại Qui Nhơn. Sang ốm và cao như
cây tre miễu. Nước da đen nhẽm. Mắt tṛn xoe,
tṛng trắng nhiều hơn tṛng đen. C̣n hai người
kia mới thoạt nh́n cứ tưởng là hai anh em.
Cả hai đều tṛn lẵn, chắc nịch. Da mặt
hồng hào, bóng lưỡng. Một anh tên là Nguyễn
Đức Hinh, năy giờ chỉ đứng nh́n chúng tôi
cười cười, không nói ǵ, nét mặt lộ vẽ
thân thiện. C̣n anh kia là Đỗ Danh Đạo,
người hoạt bát, nói năng vui vẻ. Anh giới
thiệu với chúng tôi người này, người nọ
bằng một giọng đặc biệt Bắc pha Sài
G̣n nghe rất tếu:
- Ông này
là Nguyễn Tiến Lăng, -anh chỉ tay về phía
đầu giường, Lăng đang quấn mền,
ngồi dựa lưng vào vách.- Lăng là thổ địa
kỳ cựu sáu năm ở đây, có biệt danh là ông
Trùm. Đang dạy tại trường Nam Bảo Lộc.
Có
lẽ đoán được sự thắc mắc của
chúng tôi qua nét mặt ngơ ngác, Đạo giải thích:
- Sở
dĩ ông Lăng lên tới chức Ông Trùm là v́ ông ở đây
lâu, thổ nhưỡng Lâm Đồng tặng cho ông
bệnh sốt rét kinh niên. Cứ tới năm giờ
chiều là ông phải trùm mền, xoa dầu Nhị Thiên
Đường. Ngày nắng hay ngày mưa cũng
đều đặn.
Mọi
người cười rộ lên qua lời tếu của
Đạo. Quay qua cặp mập và ốm ngồi cạnh
nhau, Đạo tiếp:
- C̣n hai
ông này là Sang và Hinh, đang làm vua một cơi tại Lạc
An, cách đây bảy cây số. Một tuần về
phố một lần để du hí. Tạm trú tại
"am" của em và bác Lăng.
Không
khí dần dần cởi mở, thân mật. Chúng tôi
thấy ấm ḷng và quên ngay nỗi buồn nặng nề
buổi chiều, mới cách đây có hai tiếng
đồng hồ. Chợt Hinh lên tiếng:
- Này ông,
ông giới thiệu người khác lung tung, sao ông không nói
ǵ về ông hết?
Đạo
đỏ mặt rần lên, phất tay lia lịa:
- Thôi tha
cho nhà em, nhà em đâu có ǵ để mà nói!
Nhưng
Hinh đâu có chịu tha:
- Hai anh
nè! Hắn là Đỗ Danh Đạo, tự là Đạo
Sữa. Hôm mẹ hắn dẫn hắn lên đây giao cho bác
Lăng trông nom, có dặn ḍ bác Lăng nhắc chừng hắn
uống đều đặn mỗi ngày ba lần sữa,
sữa Guigoze chính hiệu bà Lang Trọc đấy.
Nói
xong, anh chỉ cho chúng tôi thấy hai thùng sữa tổ
bố nằm dưới gầm bàn.
Thoáng
chốc, chúng tôi thấy gần gũi và thân t́nh như
đă quen nhau tự bao giờ. Mọi người dục
chúng tôi đi tắm rữa rồi dẫn đi ăn
tối. Đi ngược lại hẽm Tiên Dung. Phía bên kia
đường là quán ăn Ngọc Hương, nằm bên
phải đầu cầu. Buổi chiều, lầm lũi
theo bác cai nên chúng tôi không để ư. Cầu có tên là Cầu
Đất, v́ bên dưới không có sông hay suối ǵ
cả. Người ta dùng xe ủi, ủi đất
lấp đầy một quăng, nối liền hai trái
đồi, thành một lối đi, hai bên có thành che
chắn cho khỏi ngă xuống hố, trông giống như
cây cầu. Sương buổi tối đă dâng lên dầy
đặc. Cả phố Bảo Lộc thắp thoáng
ẩn hiện trong sương giống như cảnh tiên
bồng trong xi nê. Quán ăn Ngọc Hương lập ḷe
ánh điện, văng vẳng tiếng nhạc phát ra, nghe
như lúc gần lúc xa. C̣n nhớ h́nh như bản
"Những Bước Chân Âm Thầm". V́ lời ca,
tiếng nhạc với cái khung cảnh lúc bấy giờ
nó ḥa nhập vào ḷng người lần đầu tiên
đặt chân lên miền cao nguyên, sơn cước...
Trước mắt tôi, một cảnh trí hoàn toàn lạ
lẫm, đầy huyền ăo và thơ mộng mà từ
thuở nhỏ đến giờ, sống ở miền
gió biển, cát trắng, sóng vỗ quanh năm, tôi chưa
từng được thấy. Có chăng cũng chỉ
là tưởng tượng ra những h́nh ảnh mơ
hồ qua bản nhạc "Ai Lên Xứ Hoa Đào"
của nhạc sĩ Hoàng Nguyên mà thôi.
Những
h́nh ảnh buổi chiều đứng co ro nơi bến
xe vắng ngắt bóng người, nó ảm đạm thê
lương bao nhiêu, bây giờ trở thành thơ mộng,
lăng mạn bấy nhiêu. Nào con đường đất
đỏ quanh co lẫn khuất dần trong ngơ vắng.
Nào sương mù là là bay từng đám dưới chân. Nào
những con đường lên dốc, xuống dốc
khiến những mái nhà trồi lên, hụp xuống theo, y
như những con thuyền tṛng trành lượn theo
giợn sóng xa xa ngoài biển.
Đang
đói suốt một ngày đi đường, tôi và
Sơn, vèo một cái, mỗi người đă ăn
hết một dĩa cơm sườn nướng
một cách ngon lành. Trong lúc mọi người đang nhâm
nhi cà phê, nghe nhạc. Họ đă ăn từ chiều.
Chúng tôi tiếp tục uống cà phê và tṛ chuyện. Sơn
ít nói, chỉ ngồi nghe. Thỉnh thoảng góp vài câu
gọi là. Có lẽ lần đầu c̣n giữ kẽ
chăng? Ba anh: Lăng, Hinh, Đạo chốc chốc lại
ngó chăm chăm vào Sơn, nửa như ṭ ṃ, nửa
như quan sát. Phải chăng cái phong thái nghệ sĩ
của Sơn đă gây cho người ta cái ấn
tượng đầu tiên? Đối với tôi hay Sang,
cái h́nh ảnh Trịnh Công Sơn, với một khuôn
mặt ngăm đen, đôi mắt nhỏ mơ màng sau
cặp kính cận khổ lớn, gọng đồi
mồi che gần hết nửa khuôn mặt, trong hai năm
học tại Qui Nhơn đă quá quen thuộc. Nhưng
giờ đây, với những người bạn mới,
chân chỉ hạt bột, mới rời ghế nhà
trường, lần đầu tiên bước chân ra ngoài
xă hội th́ h́nh ảnh một ngươi nghệ sĩ
như Sơn tự nhiên với mái tóc thưa, hơi dài, cái
trán hói cao, đôi kính cận to quá khổ, hàng ria mép lưa
thưa, vừa như râu, vừa như lông, mănh và mịn
khiến người ta thấy lạ nhưng ưa nh́n và
có cảm t́nh ngay.
Gần
chín giờ, mọi người dục về. Tôi và Sơn
muốn nán lại chút nữa để được
hưởng thêm cái hương vị ngọt ngào,
đậm đà kỷ niệm của ngày đầu tiên
đặt chân lên xứ Thượng. Nhưng anh Lăng cho
biết, đúng chín giờ là nhà máy điện sẽ cúp.
Đêm
đó, chúng tôi trăi chiếu, chăn xuống thềm nhà,
năm người bạn trẻ, trừ anh Lăng nằm
trên giường, tuổi sàng sàng từ hai bốn
đến hai sáu, cùng nhau trao đổi những chuyện
quê hương đi dần từ Sài G̣n ra đến
Huế rồi thiếp vào giấc ngủ. Lúc bừng
mắt dậy đă chín giờ sáng.
Sáng
thứ Hai, tŕnh diện tại Ty để chờ bổ
nhiệm, chúng tôi gặp hầu hết các bạn khác
từ các nơi cũng đă đến từ thứ
Bảy, Chủ Nhật. Sư phạm Qui Nhơn đủ
mặt: Lê Thị Ngọc Trinh, Đỗ Thị Nghiên,
Trương Khắc Nhượng. Sư phạm Sài G̣n: Nam
có Nguyễn Hảo Tâm, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Văn
Tâm, Trần Văn Nghị. Nữ có: các cô Nguyệt, Châu,
Hải, Trang ... Sư phạm Long An chỉ có một ngoe là
Ngô Thanh Bạch.
Ty Trưởng đương nhiệm là
Ông Trương Cảnh Ngôn, sắp về hưu.
Đỗ Thị Nghiên, Trương Khắc Nhượng,
Nguyễn Hảo Tâm và tôi cùng được bổ
nhiệm về trường Tân Bùi, xứ Tân Bùi, cách trung
tâm Bảo Lộc chừng năm cây số. Lê Thị
Ngọc Trinh bổ về trường Nữ Bảo
Lộc ngay trung tâm phố. Nguyễn Văn Ba phụ chân
kế toán tại Ty. Riêng Trịnh Công Sơn
được "biệt nhăn" hơn bổ về
một trường Sơ Cấp Thượng, ở sát nách
Ty, chừng non cây số. Với chức vụ là
Trưởng Giáo. (Xin chú ở đây, theo qui chế Bộ
Giáo Dục bấy giờ: một trường chỉ có
lớp bốn trở xuống gọi là trường
Sơ cấp. Đứng đầu là Trưởng Giáo,
phải dạy lớp và không có phụ cấp chức
vụ 200$. Trường từ năm lớp trở lên
mới được gọi là trường Tiểu
học. Đứng đầu là Hiệu Trưởng có
phụ cấp chức vụ, vẫn phải đứng
lớp. Truờng có từ mười lớp trở lên,
Hiệu Trưởng mới được miễn
dạy.
Ngạch
chúng tôi là Giáo Học Bổ Túc, chỉ số lương
tập sự là 320, ngân sách do Bộ Quốc Gia Giáo Dục
đài thọ, như đă nói ở trên. Sau khi phân
bổ xong, Ty cho chúng tôi được nghỉ một
tuần để thu xếp nơi ăn chốn ở.
Thứ hai tuần tới sẽ tŕnh diện nhiệm
sở mới. Khi về đến nhà, chúng tôi ḅ
lăn ra cười với cái chức Trưởng giáo
của Sơn. Lần đầu nghe tới chức Trưởng
Giáo, ai cũng liên tưởng tới chức Trưởng
Lăo Hộ Pháp trong Ma Giáo, truyện chưởng Kim Dung.
Mấy
ngày thong thả, tôi và Sơn đi dạo khắp nơi
để t́m nhà trọ. Thật đúng như lời
của một bản nhạc "đi dăm phút đă
trở về chốn cũ..." Phố Bảo Lộc
nằm dọc theo quốc lộ, chỉ có một
đoạn ngắn chưa đầy nửa cây số.
Bắt đầu từ trường Nông Lâm Súc, chạy
thoai thoải xuống dốc, đến cuối dốc là
một cái hồ nước, trông giống như cái ḷng
chăo là hết. Lên dốc, hai bên là những đồi trà
ngút ngàn. Lâm Đồng là xứ trà. Xưa kia B'B'Lao do
người Pháp khai khẩn trồng trà và chế biến
trà. Họ có nhiều trang trại lớn và có cả sân bay
tư nhân. Năm chúng tôi được bổ về
đây th́ chỉ c̣n hai người Pháp già lấy vợ
Việt Nam là c̣n ở lại. Những trại chủ khác
đă bán lại cơ sở cho người Việt
hoặc bỏ hoang để về nước v́ không
chịu nổi Việt Cộng thu thuế.
Bảo
Lộc là đọc theo âm Việt của tên Thượng
là B'Lao . Năm 1954, ông Diệm đưa số
người Bắc di cư lên đây khẩn hoang lập
nghiệp. Họ toàn là người Công Giáo. Dẫn
đầu là một cha xứ. Người xứ nào ở
ngoài Bắc thuộc làng ǵ th́ lên đây qui tụ lại
thành một xứ, lấy tên làng ḿnh ghép thêm chữ Tân
để thành tên của xứ ḿnh. Ví dụ: làng Bùi Chu
thành Tân Bùi. Theo thứ tự, hướng từ
Định Quán lên cao dần, qua khỏi khu vực sông La
Ngà là đèo Ma Đa Gui, ranh giới tỉnh Lâm Đồng.
Quận Bảo Lộc bắt đầu từ xứ Tân
Bùi. Tiếp theo là Tân Hà. Phố Bảo Lộc nằm
giữa. Rồi đến Tân Thanh, Tân Phát. Xa vào tận buôn
Thượng c̣n thêm Tân Rai và Tân Lú. Tôi chưa đến
đó bao giờ. Chỉ đọc thấy trên bản
đồ hành chánh. Mỗi xứ đạo do một cha
xứ cai quản, cả phần hồn lẫn phần
xác. Phụ tá có các ông trùm. Xứ có lực lượng
vũ trang riêng để tự vệ an ninh và đánh
trả Việt Cộng. Chung quanh xứ bảo bọc
bởi hàng rào tre kiên cố. Kẻ lạ muốn vào xứ
phải có người trong xứ quen và hướng
dẫn. Xứ được xây dựng theo đồ h́nh
bát quái. Trung tâm là nhà thờ. Dưới mỗi nhà
đều có đường hầm ăn thông với
đường hầm chính dẫn tới nhà thờ. Đường
hầm được đào và xây dựng rất rộng
răi, chắc chắn. Suốt những năm ông Diệm
chấp chánh, không một tên du kích nào dám bén măng đến
quấy rối. Nghe nói lúc đầu cũng có vài tên cố
thâm nhập nhưng đều bị giáo dân tóm cổ
tức khắc. Trong khi đó, tại trung tâm phố, khu
tập trung đông đảo dân Nam, Ngăi, B́nh, Phú, Thừa
Thiên theo đạo Phật đa số th́ Việt Cộng
lại dễ dàng trà trộn răi truyền đơn và treo cờ.
Kể từ năm 1964, khi chúng tôi dạy học tại
đây, trở về sau, những chính quyền kế
tiếp không chú trọng đến kế hoạch ấp
chiến lược nữa, thu hồi toàn bộ vũ khí
của các xứ, nên vấn đề an ninh lỏng
lẽo dần.
Trở
lại chuyện chúng tôi đi t́m nhà trọ. Suốt
mấy ngày, Sơn và tôi lang thang khắp ngơ để t́m nhà
thuê, nhưng không nơi nào vừa ư. Nhất là nhà vệ
sinh th́ khiếp quá. Tất cả các nhà đều đào
hố xí sau vườn. Gác ngang miệng hố là hai thanh
gỗ. Che chung quanh bằng những tấm cót tre. Không có
mái che. Ngày mưa phải đội nón lá mà ngồi.
Nhặng xanh hằng ngàn con bay vù vù từ dưới
hố lên, bu cả vào người. Ḍi bọ trắng
nhởn to bằng đầu đũa, ḅ lổn nhổn
khắp mặt đất. Eo ơi! C̣n những ngày
nắng oi nồng, cái mùi xú uế từ dưới xông lên
càng khiếp đảm.
Trong
lúc loay hoay t́m nhà, có ai đó mách chúng tôi, ở về phía Ty
Công Chánh có ngôi biệt thự vừa xây xong, chủ nhà
muốn cho thuê nhưng hơi đắt. Sơn và tôi
đến ngay. Nhà rất đẹp, tọa lạc trên
một khu quang đăng, thoáng tầm nh́n. Chung quanh hàng rào bao
bọc, phía trước có cổng. Nhà có ba pḥng ngủ,
một pḥng khách. Nhà bếp rộng chia làm hai, một
nửa là bếp, một nửa là pḥng tắm và vệ
sinh. Chủ nhà là một người đàn bà tuổi
trạc độ ba mươi, người mănh dẽ. Bà
hiện là Trưởng Pḥng Kế Toán của Ty Công Chánh Lâm
Đồng. Bà sống với đứa con gái nhỏ sáu
tuổi tên Đào. Chồng bà đang làm việc ở
Sàig̣n, bà cho biết. Sau khi nói chuyện độ dăm
phút, chúng tôi bằng ḷng thuê toàn bộ căn nhà, trừ
một pḥng cho bà và đứa con gái để ở,
với giá 1.200 đồng. Nếu muốn ăn cơm
tháng th́ bà nấu luôn cho. Ngày ba bữa, mỗi người
trả thêm ba trăm đồng. Chúng tôi ra về với
ḷng thơ thới v́ đă t́m được nơi ăn
ở vừa ư. Trên đường về Sơn cứ
lẩm bẩm: Đàn bà mà tên Phi lại lót Thị, Thị
Phi... Thị Phi!
Sơn
tủm tỉm cười một ḿnh. Tôi biết Sơn
đang nghĩ ǵ về bà chủ nhà trẻ, sống
một ḿnh.
Chúng
tôi rủ thêm hai người bạn nữa để chia
bớt pḥng và chia bớt tiền. Hai anh Nguyễn Hảo
Tâm và Nguyễn Văn Ba đến xem nhà và đồng ư
ngay. Sơn và tôi có công t́m nhà, nên được ưu tiên
ở căn pḥng trước, có cửa sổ quay ra
mặt đường. Tâm và Ba ở căn kế. Bà
chủ nhà căn trong cùng. Ba pḥng ăn thông ra pḥng khách. Pḥng
khách có cửa hông thông với nhà bếp. Từ lúc chúng tôi
về ở, trừ những lúc dọn cơm cho chúng tôi
hay những lúc đi làm chạm mặt ở pḥng khách, bà
chủ cùng đứa con gái đóng cửa im ỉm, nói
chuyện rầm ŕ ở trong buồng, ít khi ló mặt ra
ngoài. Mấy tháng sau, bà thuê được một cô
người làm. Cô này độ chừng hơn hai
mươi, có da thịt, tính t́nh hiền hậu, hơi quê
mùa nhưng dễ thương. Cô giúp bà chủ đi
chợ nấu ăn cho chúng tôi. Cô ngủ ở nhà bếp.
Nhớ
lại một mẫu chuyện vui. Có lần bà chủ
nghỉ phép nửa tháng về Sài G̣n với gia đ́nh, bà
yêu cầu chúng tôi t́m chỗ ăn tạm trong thời gian
này. (lúc đó chưa có cô giúp việc) Bốn chúng tôi thay
phiên nhau đi chợ nấu ăn mỗi người
một ngày. Sở dĩ chúng tôi không đi ăn tiệm là
v́ hai lư do. Thứ nhất là làm biếng đi xa. Từ nhà
đến tiệm ăn xa hơn đến chợ. Thứ
hai, có cơ hội để thử ḿnh có khả năng
tự lực cánh sinh hay không? Đầu tiên, tôi xung phong
trước. Bữa ăn có cá chiên dầm mắm tỏi
ớt, chắm với dưa leo, rau sống, xà lách. Hội
đồng chấm điểm: Tạm được!
Ngày thứ hai, Nguyễn Văn Ba. Thịt ba chỉ kho
hột vịt ăn với dưa cải và cà pháo muối
mặn. Điểm: Khá. Đêm đó chúng tôi lục
đục thức dậy uống nước và đi
tiểu suốt. Nguyễn Hảo Tâm người Sài G̣n,
giả giọng Bắc của Ba, ngâm ư ử chọc
Văn Ba:
Em
ơi! Mở cửa cho anh ra!
Kẻo
anh chết khát trong vại cà nhà em!
Ngày thứ ba,
Hảo Tâm vác chiếc bụng phệ đi chợ. Vậy
mà thoáng cái đă về, xăn tay áo vào bếp. Trưa hôm
đó chúng tôi được thưởng thức món
hột vịt luộc, dầm x́ dầu ớt chanh,
chấm với giá chua, rau sống. Sơn rên rỉ :
Chắc cái rô bi nê nước của bà chủ nhà đêm nay
hư quá! Văn Ba được dịp trả thù câu
chọc tối qua của Hảo Tâm:
- Này ông
Tâm! Cái câu "Kẻo anh chết khát trong hủ giá chua nhà
em" tối nay đọc nghe trúc trắc quá, ông ráng
sửa lại nghe cho êm tai nhá!
Tâm
cười giả lả:
- Nè... nè
tráng miệng với chuối bồ hương đi! Ngon
lắm đó.
Ngày
thứ tư đến lượt Sơn. Anh rũ tôi
đi cho có bạn. Hóa ra anh chàng mắc cỡ. Anh thủ
sẵn trong túi hồi nào không hay một cái bao bằng
giấy xi măng. Miệng ngậm ống vố ph́ phèo,
tay chắp sau đít, anh lững thững vào chợ như
người đi dạo cảnh. Tôi theo sau không ư kiến,
mắt đảo quanh đám người Thượng, xem
họ mua bán đổi chác những thổ sản mang
từ trên núi xuống. Nhiều nhất là phong lan. Nhưng
chỉ là những loại thường như hoàng lan, hoàng
điệp, hàm rồng, long tu, địa lan... Mấy
thứ này rẽ tiền. Chỉ năm, mười
đồng một nhánh. Tháng đầu tôi ham, mua về
treo đầy trong pḥng. Song nó cứ rũ ra, chết
dần. Có người bày cách, phải treo nó ngoài trời
cho có đủ sương và nắng gió nó mới sống.
Tôi làm theo. Nhưng mấy chục nhánh cũng lần
lượt héo sầu, đổi sang màu vàng rồi
chết khô. Có lẽ nó nhớ bạn, nhớ rừng
chăng?
Sơn
xăm xăm đi tới hàng đồ khô, gia vị và nói
với bà bán hàng:
- Bà cho
tôi một chục trứng gà, một ít củ hành và
tỏi. Tính hết bao nhiêu?
Bà
bán hàng nói giá tiền và hỏi lại:
-
Cậu có cái ǵ đựng không? Đi chợ mà đi hai tay
không vậy?
Sơn
nhanh nhẹn rút trong túi quần ra cái bị giấy xi
măng đưa cho bà bán hàng và nói:
- Bà
bỏ hết vô đây là được rồi.
Trả
tiền xong, Sơn quành qua hàng thịt mua một miếng
thịt ba chỉ. Trở lại hàng rau mua thêm mấy trái
cà chua.
- Xong!
Ông thấy tôi có nghề không? Sơn hỏi tôi mà không
cần câu trả lời.
Vừa
về đến nhà đă thấy hai chàng Tâm và Ba chờ
sẵn.
- Nào!
Bữa nay coi anh chàng nhạc sĩ của ḿnh nấu
nướng ra làm sao!
Sơn
cười h́ h́:
-
Được rồi! Mấy ông vô hết trong này coi tôi
trổ tài nghe.
Sơn
vào bếp chỉ huy ba chúng tôi, người này lột
vỏ hành, tỏi, người kia rửa cà, thái lát
mỏng, người nọ cắt thịt ba chỉ thành
sợi như chiếc đũa. Chúng tôi làm theo răm
rắp. Mọi việc đâu vào đấy. Và giục
Sơn ra tay v́ trời đă khá trưa rồi. Sơn
bắt đầu đổ dầu chiên vào chăo. Trong khi
chờ đợi dầu nóng, Sơn giảng giải cách
làm các món:
- Các ông
sẽ được thưởng thức món hột gà
"ốp la" và hột gà đổ chả nghe! (Sơn
thường đệm tiếng "nghe" ở
cuối câu rất nhẹ và rất dễ thương)
Phải đợi dầu thật nóng, bốc khói, rồi
khử dầu bằng vài tép tỏi đập dập cho
thơm-Sơn nói tiếp:
- Bây
giờ mấy ông coi nghe!
Sơn
cầm lấy một trứng gà bằng hai tay, vừa làm
vừa giảng tiếp:
- Ḿnh
phải cầm trứng bằng tám ngón tay như thế
này, từ ngón trỏ đến ngón út, hai ngón tay cái bấm
vào trứng để bóp quả trứng. Nè! Chú ư nè!
Chúng
tôi ngó theo bàn tay Sơn, những ngón tay thuôn dài đang ôm
lấy quả trứng. Những ngón tay khô, xương và
da. Phải cho có thêm một ít thịt th́ bàn tay Sơn
chắc đẹp không thua ǵ bàn tay con gái. Sơn bóp
mạnh hai ngón tay. Ḷng trắng, ḷng đỏ trứng gà
thay v́ lọt vào chăo, lại vọt xuống đất
đánh "bạch" một tiếng. Một trứng
đi đời. Sơn bào chữa:
-
Tại tôi bóp mạnh quá!
Chúng
tôi khuyến khích:
- Làm
lại! Làm lại!
Sơn
làm thêm hai lần nữa, t́nh trạng vẫn y như
cũ. Một đống trứng nhầy nhụa
dưới chân. Ba la lên:
- Thôi!
Thôi! Ông Sơn ơi, làm ơn tránh ra cho chúng tôi làm. Mà ông có
biết làm không th́ bảo?
Sơn
nói:
-
Hồi nhỏ tôi thấy má tôi làm như vậy mà!
Tâm
hỏi lại:
- Mà ông
đă làm thử lần nào chưa?
-
Chưa!
-
Vậy mà cũng bày!
Tôi
chọc quê Sơn bằng cách hát nhại "Dă Tràng Ca":
"Thôi! C̣n ǵ nữa đâu! C̣n ǵ nữa đâu! Mà không
ăn rau..."
Sơn
nổi cáu, x́ nẹt:
- Thôi
cha! Cha sửa lời làm hư hết bản nhạc
của tôi đó cha.
Sau
đó chúng tôi đập hết những trứng c̣n
lại vào trong một cái tô lớn. Trộn thêm
đường, hành củ, cà chua, thịt ba chỉ, tiêu,
x́ dầu đánh đều lên thành một món hổ
lốn, đổ vào chảo thành hai lượt cho mau chín
và không bị cháy phía dưới. Không ngờ bữa cơm
ấy lại vui và ngon ra phết. Ai nấy vừa ăn
vừa nhắc lại cảnh Sơn bóp trứng mà
cười. Dứt bữa ăn, Sơn trịnh trọng
đứng lên tuyên bố:
-
Bắt đầu chiều nay đi ăn cơm tiệm!
Không
ngờ cái lệnh vô t́nh ấy lại hợp cả cho
chúng tôi. Không ai bảo ai, cả ba chúng tôi đồng thanh
vừa cười, vừa hô to:
- Ăn
cơm tiệm! Đă đảo đi chợ!
Những
ngày chúng tôi sống chung với nhau trong "ngôi biệt
thự" của bà Trần Thị Phi thật là vui
nhộn. Cũng chính trong căn pḥng có khung cửa sổ
ngó ra con đường đất đỏ của
căn nhà này, Trịnh Công Sơn đă sáng tác các nhạc
phẩm để đời: "Chiều Một Ḿnh Qua
Phố", "Lời Buồn Thánh", "Vết
Lăn Trầm"- và "Ca Khúc Da Vàng."
Ngày Lănh
Lương Đầu Đời
Mới
ngày nào vừa tŕnh diện để nhận nhiệm
sở, thoáng cái đă đến cuối tháng lănh
lương. Ngày lănh lương đầu tiên trong
đời, chúng tôi ai nấy đều háo hức
đến Ty thật sớm để được kư
tên vào sổ lương. Tôi kư tên và nghĩ đến
một món tiền lớn do chính tay ḿnh làm ra. Món tiền mà
từ xưa tới nay, tôi chưa hề được
cầm trong tay. Hai năm trọ học ở Qui Nhơn,
cha mẹ tôi phải khó nhọc lắm mới chắt chiu
được sáu trăm đồng hàng tháng gửi cho tôi
chi tiêu. Có tháng chậm tới ngày thứ mười mà tôi
vẫn không dám viết thư dục v́ tôi hiểu rơ hoàn
cảnh của tôi: Con nhà nghèo.
Trong
khi chúng tôi nôn nao chờ đợi được gọi
tên vào pḥng kế toán để lănh tiền th́ anh Thành, phát ngân
viên, cứ đủng đỉnh hút thuốc lào. Tiếng
kêu rít rít của cái nỏ cầy càng thêm sốt ruột.
Lại thêm mấy ngụm trà Tàu khề khà nữa chứ.
Tiếng
Nguyễn Đức Tín, giáo viên trường Cộng
Đồng Thượng, một tay lâu năm trong nghề,
rất hoạt kê và lém lĩnh vang lên:
- Bố
Thành ơi! Ra tay làm phúc cho chúng em nhờ tí! Cả tháng nay
chưa có hột cơm nào trong bụng cả. Hôm nay em
về trễ, có mà vào nhà bằng đít.
Giai
thoại về anh chàng Tín này rất nhiều. Chuyện nào
cũng cười vỡ bụng. Có dịp sẽ kể.
Khi mọi người đă cầm trong tay cái phong b́ dày
cộm có ghi tên ḿnh, Tín tḥng thêm một câu chót trước
khi ra khỏi cửa Ty:
- Này
bố Thành! Em bảo nhé! Cứ thuốc lào nhiều vào! Hai
cái má hóp như hai cái hố ấy. Người cứ
quắt như cái tăm, bà Thành không cho tí chút th́
đừng bảo Tín này không nói trước nhá!
Nói
xong, Tín cười hềnh hệch. Ra khỏi Ty, Sơn săi
chân đi thật lẹ. Sơn cao, chân dài. Tôi thấp, chân
ngắn, nên phải nhảy ba bước một mới
kịp. Vừa thở, vừa kêu:
- Ông
Sơn! Về nhà chớ đi đâu mà ông đi như ma
đuổi vậy! Từ từ chờ tôi với chứ!
Sơn
không đáp cứ cắm đầu đi thẳng. Vừa
vào pḥng, Sơn khóa trái cửa lại. Tôi nhạc nhiên
chờ xem anh chàng làm cái ǵ đây. Sơn để nguyên
quần áo, giày vớ, nằm vật ngữa ra đi
văng, tay rút trong túi quần ra cái pḥng b́ tiền
lương lúc năy, xé phong b́, nắm hết xấp tiền
5.200 đồng, gồm giấy năm đồng,
mười đồng, năm chục đồng tung lên
trên trần nhà. Giấy bạc mới tinh, phát ngân viên Thành
vừa lănh từ Kho bạc ra, rơi lả tả
xuống người Sơn, rơi xuống đi-văng.
Sơn hốt lên, tung trở lại. Sơn cười
sằng sặc. Sơn cười ha hả. Tiếng
cười nghe là lạ. Nó pha lẫn niềm vui và nỗi
phẫn hận. Rồi Sơn chửi thề:
- Đù
mạ mi! Đù mạ mi! Tiền! Tiền!
Đó
là lần đầu tiên tôi nghe Sơn chửi thề. Và
cũng là lần duy nhất suốt ba năm sống chung
với nhau.
Tôi
để mặc Sơn được tự do trong những
giây phút ấy. Tôi không muốn gây một tiếng
động nào để quấy rầy Sơn đang
đắm ch́m trong thế giới riêng của ḿnh.
Tôi
yên lặng đếm tiền của ḿnh một cách
chậm răi. Từng tờ, từng tờ. Tôi để cho
mười đầu ngón tay của ḿnh cảm nhận
hoàn toàn cái cảm giác đê mê, sung sướng đang run
lên từng chặp với những tiếng kêu sột
soạt của những tờ bạc mới tinh nguyên
chạm vào nhau. Cái âm thanh nghe sao mà hấp dẫn. Cái mùi
giấy bạc mới sao mà quyến rũ thế!
Đầu tôi phác hoạ ra một chương tŕnh mau
lẹ: Hăy trích ra ba ngàn đồng, ra ngay Bưu
điện mua một cái "măng đa" gửi
liền về cho Má để Má mừng. Chắc Má sẽ
vui lắm khi nhận được tiền do thằng con
gửi về. Thằng con do bà nuôi nấng, chắt chiu,
dành dụm từng đồng, từng cắc của gánh
hàng đè nặng lên vai bà ngày ngày, cho con ăn học. Hôm
nay có lẽ bà sẽ sung sướng và hănh diện âm
thầm, không tỏ lộ cùng ai: Con bà đă trở thành ông
giáo!
Chiều
hôm đó tất cả chúng tôi không ăn cơm nhà. Phải
tự khao cho ḿnh một chầu linh đ́nh mới
được. Tại nhà hàng Ngọc Hương (bây
giờ ông bà chủ quen mặt chúng tôi quá rồi) có mặt
đông đủ các ông giáo trẻ vừa mới có
được một thành tích: "Một tháng công
vụ" Chúng tôi uống bia. Tín gọi nhà hàng ơi
ới:
- Này ông
bà chủ! Cho một két bia "ông Tây Cà lồ" nhé! Bia
thật lạnh đấy!
Bia
"ông Tây Cà lồ" mà Tín gọi là bia Con Cọp,
loại chai lớn. Tín có những từ ngữ thật
đặc biệt để gọi các vật hay những
việc nghe rất buồn cười. Có lần anh ta
mời Sơn và tôi đến nhà chơi. Anh ta nói oang oang
giữa đám đông đang bù khú:
- Này! Xin
thưa với các cụ! Hôm nay em xin phép các cụ cho em
"rước" hai ông anh này đến "am" em
chơi, làm mấy "ve". Xin các cụ đừng
"à uôm" ǵ cả nhớ!
Đêm
đó chúng tôi ăn uống tưng bừng. Cười nói
hả hê. Chín giờ, điện cúp. Chúng tôi ra về, bá vai
nhau đi khệnh khạng, xiên xẹo giữa phố
vắng, dày đặc sương mù. Đến cuối
dốc cầu, xếp hàng ngang, vạch quần, vừa
đi, vừa tè, vẽ thành rồng rắn, loang lỗ trên
mặt đường nhựa.
Ôi
một thời tuổi trẻ vô tư, hồn nhiên!
Một
Thầy, Một Cô, Một Con Chó Cái!
Tôi
không h́nh dung được lúc ông Cao bá Quát làm giáo thụ
ở Quốc Oai cái cảnh nó ra làm sao, mà ông tả oán
bằng những câu thê thảm:
Một
thầy, một cô, một chó cái,
Học
tṛ dăm đứa, nửa người,
nửa
ngợm, nửa đười ươi!
Nhưng
cái cảnh ông trưởng giáo Sơn ngồi dạy
học ở ngôi trường Sơ cấp Thượng
th́ thật bi hài. Mỗi buổi sáng, cái hoạt cảnh ông
đi dạy đă là buồn cười rồi. Tôi và
Sơn có điểm giống nhau là không thích đeo
đồng hồ. Tôi dạy buổi chiều nên tha hồ
nằm nướng trên giường. Sơn dạy
buổi sáng, phải dạy sớm lúc bảy giờ
để đến trường. Những ngày có mặt
trời th́ nh́n bóng nắng, độ giờ mà đi.
Những
ngày sương mù hay mưa dầm th́ lắng nghe tiếng
kèn đồng chào cờ của một đồn lính nào
đó, rất xa vọng lại văng vẵng. Te te... ṭ tí
te... ṭ tí te... là Sơn xỏ vội chiếc áo sơ mi ka
ki vàng cụt tay, (Chiếc áo này tôi thấy từ lúc c̣n
ở trường Sư phạm) đôi giầy Ba-Ta màu
nâu. Nách kẹp cuốn vở soạn bài cuộn tṛn,
miệng ngậm ống vố, chân sải bương bă
đến trường. Trường không xa lắm. Cách
nhà non nửa cây số. Sơn lội bộ hàng ngày trên con
đường đất đỏ, càng lúc càng lên
dốc. Ngày nắng th́ bụi đỏ mù trời. Ngày
mưa đất nhăo, nhèm nhẹp. Đi một lúc th́
phải t́m một khúc cây hay ḥn đá bên đường
để gạt bớt lớp đất nhăo dính vào
đế giày càng lúc càng nặng. (Quảng đường
này ông Trịnh Cung tưởng tượng ra dài
đến mấy cây số, Sơn phải g̣ lưng
đạp xe đạp đến trường). Có hôm,
Sơn ngồi chờ măi vẫn không nghe thấy tiếng
kèn đồng giục giă ṭ te, tí te, cứ ôm đàn t́m
nốt nhạc. Đến khi sương tan, mặt
trời ló ra th́ đă trưa rồi. Ba chân bốn cẳng,
Sơn phóng như ngựa phi đến trường.
Nửa giờ sau, thấy anh ta đủng đỉnh ra
về. Tôi hỏi:
-
Ủa! Không dạy à?
-
Học tṛ đâu mà dạy? Sơn trả lời tỉnh
khô. Tôi vẫn chưa hết thắc mắc:
-
Vậy th́ chúng nó không đi học à?
- Không
biết! Nhưng có lẽ chúng nó thấy không có thầy nên
tự động ra về. Tôi đoán vậy.
- Nè ông
Sơn! Trường ông sát nách Ty. Coi chừng Thanh tra
Lương đi kiểm soát bất tử th́ chết không
kịp ngáp đó nghe! Tôi nhắc chừng. Sơn vẫn nói
cứng:
- A! Tôi
đâu có cho phép. Chúng nó tự động về là lỗi
của chúng. Đâu phải lỗi tại tôi.
Đến
nước này th́ tôi chào thua, hết căi.
Một
hôm, tôi bỗng nảy ư định đến xem ngôi
trường của ông trưởng giáo Sơn nó ra làm sao.
Leo
hết con dốc ngắn, ngôi trường hiện ra trên
một khoảng đất trống. Xung quanh trơ
trọi, không một cây cối ǵ cả. Trường
được ngăn &