ĐT. 714-541-9859, 714-423-0577                      THONG THIEN HOC

Google

Trang Chính

English

Việt Nam


Hoa Kỳ

Sinh Hoạt Cộng Đồng


Thế Giới
Diễn Đàn

Văn Học

B́nh Luận

Kinh Tế
Câu Chuyện ThờiSự

Chuyện Lạ 4Phương

Khoa Học

Sức Khỏe

Ẩm Thực

Nhân Vật

Người / Ngợm

Vui Cười


Biếm Thi

Linh Tinh

Rao Vặt

Nhạc Hoàng Vân

VNCH Foundation

Ca Dao Việt Nam

Thơ Hà Huyền Chi

Hà Phương Hoài

Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam

OVERSEAS
FREE VIETNAMESE
COMMUNITIES

RADIO
SAIGON-HOUSTON

Về Một Quăng Đời của Trịnh Công Sơn

Nguyễn Thanh Ty

(V́ bài quá dài nên chia ra làm 2 phần để dễ chuyển mà thôi).

Phần I:

Trịnh Công Sơn đă nằm xuống. Cát bụi trở về với cát bụi. Xong một kiếp người. Nhưng đằng sau ông, vấn đề vẫn chưa xong. Người khen ông rất nhiều. Kẻ chê ông cũng lắm. Dù khen hay chê, mọi người đều phải công nhận tài năng âm nhạc của ông. Cái đó đă hẵn. Không bàn ở đây. Vấn đề đang tranh cải được đặt ra ở đây: Trịnh công Sơn có là Cộng Sản hay không? Hay chỉ là nạn nhân đi giữa hai lằn đạn? Như ông Trịnh Cung và một số người đă nêu!

Người viết bài này có dịp gần gũi và sống chung với Trịnh Công Sơn một thời gian, từ năm 1962 đến 1967, nên biết được đôi điều về cuộc đời thường của nhạc sĩ họ Trịnh này. Nhân ngày ông qua đời, một số thân hữu yêu cầu tôi viết lại những kỷ niệm vui buồn với người quá cố để anh em hiểu thêm về một thiên tài âm nhạc. Và luận xem thử Trịnh Công Sơn có là Cộng sản hay thiên Cộng hoặc đi giữa?

Tôi chưa hề viết văn. Mong rằng những ḍng thô thiển dưới đây giúp ích được phần nào cho những ai thích sưu tầm tài liệu về cuộc đời người nghệ sĩ tài hoa bạc mệnh này. Miễn chấp cho chuyện chữ nghĩa.

Theo chỗ tôi biết, trong số những người viết về cuộc đời của nhạc sĩ họ Trịnh trong thời gian dạy học, chỉ có bốn người mới có thể có nhiều tài liệu sống về Trịnh Công Sơn, c̣n hầu hết đều cưỡi ngựa xem hoa, hoặc cặm cụi mày ṃ, đào xới trong các bài viết của nhiều người, cóp chỗ này một ít, chỗ kia vài chi tiết và đem các ca từ của họ Trịnh ra, sợi tóc chẻ làm tám, rồi dùng ng̣i bút thần kỳ hô phong, hoán vũ, tô lục, chuốc hồng mà thôi.

Bốn người đó là: Hoàng Phủ Ngọc Tường - Khánh Ly - Trịnh Cung - Đinh Cường.

Thời gian Trịnh công Sơn c̣n sống, báo chí hải ngoại viết rất nhiều về người nhạc sĩ này, cả khen lẫn chê, nhiều khi đến độ gay gắt. Tôi cố t́m đọc những bài của ông Đinh Cường để xem lập trường của ông, nhưng không thấy. Mới đây ông Nguyễn văn Liễu tức họa sĩ Trịnh Cung có phát biểu một số điều tại Cali trong dịp tưởng niệm Trịnh Công Sơn. Trong đó có một số sự việc ông không phản ảnh đúng sự thật. Tôi nghĩ rằng ông quên hoặc ông suy diễn.

Măi đến khi tờ Hợp Lưu, số 59, phụ trang đặc biệt Trịnh Công Sơn "Một cơi đi về", tôi mới được đọc một bài duy nhất của ông Đinh Cường. Cả hai ông Trịnh Cung và Đinh Cường đều nói là bạn lâu năm với Trịnh Công Sơn, từng cưu mang, chia ngọt, xẻ bùi cùng nhau cho đến ngày nhạc sĩ họ Trịnh từ giă cuộc đời. Nhưng tuyệt nhiên, người ta không thấy hai ông đả động ǵ tới vấn đề Trịnh Công Sơn có là Cọng Sản hay không?

Ca sĩ Khánh Ly hết lời ca tụng người nhạc sĩ này là điều đương nhiên, dễ hiểu. Nếu không có nhạc Trịnh Công Sơn chắp cánh cho Khánh Ly bay cao, th́ suốt đời Khánh Ly chỉ là một cô bé "nhếch nhác", như lời ông Cung mô tả, ở tại Đà Lạt mà thôi. Ngược lại, nếu nhạc Trịnh Công Sơn không nhờ Khánh Ly "lăng xê chùa" trên Đài Phát Thanh Đà Lạt, ṛng ră ba năm liền, từ 1964 đến 1967, và "đi chân đất" về Sài G̣n hát miễn phí cho sinh viên nghe th́ liệu nhạc của họ Trịnh có được phổ biến rộng răi như ngày nay không? Cần nhắc ở đây là trước 1964, từ cái thuở mới mười bảy tuổi, Trịnh Công Sơn đă có những bản nhạc rất hay như "Ướt Mi", "Thương Một Người", "Biển Nhớ", "Nh́n Những Mùa Thu Đi" mà nào có tăm tiếng ǵ. Có chăng là những bạn bè trong giới Sư phạm hoặc một vài thân hữu chuyền tay nhau hát!

Người có thẩm quyền nhất để giải đáp thắc mắc của nhiều người liệu Trịnh Công Sơn có là Cộng Sản hay không chính là Hoàng Phủ Ngọc Tường. Nhưng đến giờ này, tôi không thấy ông lên tiếng xác nhận. Hoặc có mà tôi không biết chăng?

 

Hai Năm Tại Trường Sư Phạm Qui Nhơn 1962-1964

Tôi học chung một khóa Sư phạm với Trịnh Công Sơn. Khóa I, ngày 22 tháng 4 năm 1962, khóa đầu tiên được mở ra tại thành phố Qui Nhơn, tỉnh B́nh Định. Tên gọi khóa học là "Thường Xuyên", học hai năm, để phân biệt với "Khóa Cấp tốc", học một năm. Tiêu chuẩn tối thiểu để nộp đơn là Tú Tài I. Tuy nhiên khóa đầu tiên ấy đa số đă có Tú Tài II. Một vài người đă có một, hai chứng chỉ Đại học. Sĩ số giáo sinh là ba trăm người. Đa phần là người Huế, tỷ lệ có lẽ chiếm 60%. Số c̣n lại răi rác ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú Yên, Khánh Ḥa... lên tận các tỉnh cao nguyên Đà Lạt, Lâm Đồng, PleiKu, KonTum...

Trịnh Công Sơn theo ban Pháp văn. Tôi theo ban Anh văn. Hiệu trưởng là thầy Đinh Thành Chương. Ông này rất tôn sùng tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. Mỗi sáng thứ hai, chào cờ, Ông thường có những bài phát biểu trước giáo sinh, ca tụng công đức Ngô Chí Sĩ hết lời. Ngược lại, em Ông, giáo sư Đinh Thành Bài lại thiên Cộng. Trong những giờ dạy Sư phạm lư thuyết, thầy thường xen vào những lời ca ngợi chế độ Cộng Sản.

Năm 1963, phong trào Phật Giáo nổi lên, lật đổ chính quyền Ngô Đ́nh Diệm. Một nhóm giáo sinh tổ chức tố khổ thầy Đinh Thành Chương, buộc Ông phải từ chức. Trịnh Công Sơn cũng bị lôi kéo theo trong vụ này. Mấy tuần sau, Bộ Giáo Dục phải bổ nhiệm giáo sư Mẫn mới từ Hoa Kỳ về, thay thế thầy Chương, nội vụ mới êm.

C̣n nhớ, ngày nhập học đầu tiên, thầy Đoàn Nhật Tấn, dạy môn tâm lư giáo dục, đọc tặng học tṛ hai câu thơ:

Dưa leo chấm với cá kèo,

Bởi con nhà nghèo mới học Normal! (Sư phạm)

Đúng vậy! Đa số chúng tôi lúc ấy đều là con nhà nghèo. Hoặc học hành dang dở, hoặc cha mẹ không đủ khả năng tài chánh để gửi con ra Huế hay vào Sài G̣n tiếp tục học lên Đại học. V́ vậy chúng tôi đều cố thi vào Sư phạm để chắc chắn rằng sau hai năm sẽ có công ăn việc làm cho bản thân và có thể giúp gia đ́nh. Tưởng cũng nên nói rơ ở đây tại sao chúng tôi cố thi vào Sư phạm. Thời gian đó hai ngành Y Tế và Giáo dục rất thiếu nhân viên. Khóa nào vừa đào tạo xong là được bổ nhiệm đi làm ngay. Trong khi các ngành khác như Công Chánh, Nông-Lâm-Súc, Kỹ Thuật Phú Thọ...ra trường, nằm nhà mấy năm vẫn chưa được bổ nhiệm.

Có một nghi vấn ở đây: Không biết ông Trịnh Cung vin vào đâu mà bảo rằng Trịnh Công Sơn vào được trường Sư phạm Qui Nhơn để núp bóng là nhờ hai ông Tường và Kha giúp đỡ. Có lẽ ông Cung đă nghe ông Tường, ông Kha hay là Sơn kể lại chăng?

Nói thêm một chút về chuyện thi vào Sư phạm. Đề thi thật ra không khó, nhưng để lọt được vào cửa ải, mỗi thí sinh phải chọi lại ít nhất mười đối thủ. Tính từ Quảng Trị, Trung Trung Phần đến miền cao nguyên hơn mười bốn tỉnh, Bộ chỉ chọn có ba trăm người. Vậy theo tiết lộ của ông Cung, người ta nghĩ đến hai vấn đề:

 

1/ Ông Tường hoặc ông Kha đă thi dùm cho Sơn? Hoặc 2 ông có chân trong Ban Giám khảo, chấm cho Sơn đậu?

- Tại sao lại phải vào trường Sư Phạm núp bóng mà không là Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế? Nơi mà ông Cung với ông Cường theo học.

Ông Đinh Cường từng xác nhận là Sơn có tài hội họa, vậy th́ thi vào Mỹ thuật có khó khăn ǵ, thi chi vào Sư phạm để phải nhờ đến sự giúp đỡ của hai ông Tường và Kha?

Thứ nữa, ông Cung chê nghề dạy học không xứng đáng với tài năng của Sơn (lúc ấy?). Và ông c̣n cho biết đă cưu mang Sơn.

Tôi không biết ông nói chữ "cưu mang" với một nghĩa nào. Theo chỗ tôi biết, đem chỉ số lương ra so sánh th́ lương của Sơn phải hơn hẵn.

2/ Trịnh Công Sơn vào Sư Phạm để núp bóng. Cả hai ông Cung và Cường đều nói như thế. Vậy Trịnh Công Sơn vào Sư Phạm để núp ai? và núp cái ǵ? Sẽ có hai giải thích được đặt ra cho hai chữ "núp bóng"

 

a/ Sơn vào Sư Phạm để tạm thời trốn lính.

b/ Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Nguyễn Văn Liễu (Trịnh Cung) và Đinh Cường đă có mưu đồ gài Sơn vào Sư Phạm để thực hiện sách lược "học đường vận"?

Giải thích một: không vững. Lúc đó Sơn đă có Tú Tài I. Đâu phải ở vào trường hợp "Rớt tú tài anh đi trung sĩ". Sơn có thể theo học bất cứ một trường Trung Học tư nào để thi lấy Tú Tài II vẫn được hoăn dịch theo luật định. Nếu cuối năm, thi hỏng, th́ a-lê, mời anh vào Thủ Đức, vác Garant M1 đi "ắc ê" chín tháng quân trường. Sau đó mang lon chuẩn úy, đi "mút chỉ cà tha", bốn vùng chiến thuật, trả nợ nước non. C̣n nếu anh bợ được cái Tú Tài II, th́ anh cứ tà tà lên Đại Học. Chí ít cũng được hoăn dịch bốn năm nữa. Chính phủ Việt Nam Cọng Ḥa đâu có chủ trương lùa hết trẻ, già, trai, gái, lớn, bé đi "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" như ở miền Bắc.

Ông Cường nói v́ t́nh h́nh, thời cuộc lúc đó... lại càng khiên cưỡng. Những ai sinh từ năm 1940 trở về trước đều biết rất rơ rằng: Miền nam được hưởng một thời gian mấy năm rất thanh b́nh, kể từ ngày Ông Diệm chấp chánh (54-63) cho đến lúc Ông bị đám "Thập nhị Sứ quân" giết.

Giải thích hai: có lẽ thuyết phục hơn, nếu xét theo bề dày "thành tích" Sơn đă cúc cung tận tụy, phục vụ chế độ sau tháng Tư, bảy lăm. Nhưng suốt những tháng, năm sống chung với Sơn, tôi không thấy Sơn có một hành động cụ thể nào khả dĩ gọi là có vẽ "Việt Cộng". Trừ khoảng thời gian giữa năm 1965, Sơn nhận được nhiều thư từ của ông Hoàng Phủ Ngọc Tường và tiếp theo là những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc bí mật tại một trang trại ở Phim Nôm, gần Tùng Nghĩa, Đà Lạt với một nhân vật, Sơn dấu tên. Sau đó, Sơn mới vội vă sáng tác tập "Ca Khúc Da Vàng" trong ṿng có ba tháng hè năm 1965.

Loại trừ hai giải thích trên, Sơn vào Sư phạm với một lư do hết sức đơn giản là:

Dưa leo chấm với cá kèo.

Bởi con nhà nghèo mới học "Sư phạm".  

(Cái sĩ diện hăo của đa số người Huế cứ mơ về một thời vàng son làm "ôn" làm "mệ" cố che dấu cái hiện tại suy tàn đă đành. C̣n ông Liễu là dân Nha Trang-Cầu Đá-Chụt chính tông mà cũng lập lờ "đánh bùn sang ao" quả là chuyện lạ)

Nhắc lại hai câu thơ của thầy Đoàn Nhật Tấn đă dẫn nhập để thấy rằng lúc ấy nhà Sơn đang lâm vào cảnh ngặt nghèo. Cha bị tai nạn mất sớm, gia đ́nh khánh kiệt. Má Sơn phải chật vật lắm mới nuôi nỗi đàn con c̣n nhỏ dại. Sơn là con trưởng, phải bỏ dở chương tŕnh học để lấy nốt cái Bac II Philosophie, về lại Huế để phụ giúp mẹ. Sư phạm Qui Nhơn là con đường ngắn nhất có thể giúp Sơn đạt được ư nguyện này. Những ngày mưa gió ủ ê, đất nhăo, không đi ra ngoài được, nằm khoèo ở nhà, Sơn tỉ tê kể cho tôi nghe về cuộc đời của Sơn nhiều buồn vui lẫn lộn. Trong đó có cả điều thất vọng và thất t́nh về cô Diễm. Từ đó mới có bài ca thất t́nh diễm lệ "Diễm xưa".

Dù bất cứ ai, vô t́nh hay hữu ư, che dấu hay huyền thoại hóa Trịnh Công Sơn trong giai đoạn học Sư phạm và dạy học bằng những lư do rất "mờ mờ, ăo ăo" để đánh hỏa mù dư luận với mục đích thần tượng hóa đời thường của một nghệ sĩ, cũng cần cơm ăn, áo mặc... như mọi người, đều không giúp ích ǵ được trong việc cung cấp tài liệu để viết lại tiểu sử một người nghệ sĩ tài ba được nhiều người mến mộ. Có khi lại phản tác dụng.

Trường Sư Phạm và trường Kỹ Thuật Qui Nhơn được ngân sách Mỹ tài trợ, xây cất rất qui mô và tân kỳ. Hai trường nằm gần nhau tại Khu Sáu, sát bờ biển, khoảng giưă đường từ phố Gia Long đến Ghềnh Ráng, nơi thi sĩ Hàn Mặc Tử an nghỉ giấc ngàn thu. Qua khỏi Ghềnh Ráng là làng Qui Ḥa, làng dành riêng cho người mắc bệnh cùi. Ở đó có nhiều bà "xơ" hy sinh một đời, tận tụy chăm sóc cho bệnh nhân.

Lúc bấy giờ, 1962, thành phố Qui Nhơn hăy c̣n tiêu điều xơ xác. Ngay con đường chính Gia Long, chạy dài từ Núi Một (Ga xe lửa) đến bến cảng hăy c̣n nhiều ngôi nhà vô chủ, đổ nát hoang tàn trong chiến tranh chưa có ai dọn dẹp. Đường Lê Lợi chạy từ trung tâm phố thẳng ra biển c̣n rất nhiều nhà tranh, vách lá.

Vẽ lại một vài h́nh ảnh cũ để cho thấy chính phủ lúc ấy có dụng ư khi cho xây cất hai ngôi trường đồ sộ tại đây. Mỗi năm hai trường qui tụ hơn một ngàn giáo sinh và học sinh kỹ thuật khắp nơi đổ về. Nền kinh tế tại đây đă nhanh chóng phục hồi.

Để quảng bá rộng răi cho nhiều nơi biết về trường Sư Phạm, Ban Giám Đốc nhà trường cho thành lập một ban văn nghệ. Trịnh Công Sơn được bầu làm trưởng ban, chịu trách nhiệm tổng quát. Thanh Hải, phó ban thứ nhất, trách nhiệm về nhạc. Vơ Văn Pḥng, phó ban thứ hai, trách nhiệm về kịch. Một vỡ kịch thơ dài 45 phút nhan đề "Tiếng Cười Bao Tự" được dàn dựng. Tôi được chọn để thổi sáo đệm thơ. Nhân dịp này tôi mới biết và quen với Trịnh Công Sơn.

Một chương tŕnh đại qui mô gồm đủ các tiết mục ca, múa, nhạc, kịch được Ban Văn nghệ hoạch định. Thêm vào đó là một tổ phụ trách ánh sáng. (Lúc đó rất hiện đại và tân kỳ. Dùng đèn chiếu slide làm hậu cảnh thay đổi mỗi màn tŕnh diễn khác nhau. Dùng đèn quay, chớp chớp đổi màu rất đẹp mắt)

Buổi tŕnh diễn được ra mắt đúng ngày "Song Thất" năm đó, chứ không phải ngày măn khóa như ông Đinh Cường nói.

Trong thời gian này, Trịnh Công Sơn sáng tác trường ca "Tiếng Hát Dă Tràng" hay gọi gọn hơn là "Dă Tràng Ca" để làm tiết mục mở màn. Đây là tiết mục công phu và đặc sắc nhất. Ban hợp xướng gồm năm mươi người gồm nam lẫn nữ do Sơn thử giọng tất cả các mầm non văn nghệ và chọn lọc. Anh đă khổ công tập ráo riết trong ba tháng trời, xen kẻ giữa những giờ học, và đă thành công vượt mức trước sự ngạc nhiên đầy thích thú và khen ngợi của quan khách và công chúng. Tiếng vỗ tay đă kéo dài rất lâu.

Rất tiếc, tôi không có chân trong ban hợp xướng, nên không thuộc trường ca này. Chỉ nhớ lơm bơm vài câu, xin ghi lại cho vui.

 

Tiếng Hát Dă Tràng hay Dă Tràng Ca.

(Tiếng vọng) Dă tràng... Dă tràng... Dă tràng...

Dă tràng xe cát biển Đông... Dă tràng xe cát hoài công...

(Tiếng trống Bass dồn dập, thúc dục):

Trùng dương ơi... Trùng dương ơi vỗ sóng vào bờ...

....(quên)...

Thôi... c̣n ǵ nữa đâu... C̣n ǵ nữa đâu... Đời lên cơn đau! Xuân, Hạ, Thu, Đông bốn mùa làm rét mướt... Tôi gọi tên tôi giữa nước non ngàn...

Tôi chỉ nhớ đại khái vậy. Hiện nay, tại thành phố Lawrence, Mass, có anh Nguyễn Văn Tấn, Cali có chị Hồ thị Nghị trước ở trong ban hợp xướng, chắc c̣n nhớ. Bốn mươi năm đă qua rồi, c̣n ǵ!

Cũng trong thời gian học Sư Phạm, Sơn c̣n sáng tác thêm những nhạc phẩm khác như "Biển Nhớ", "Nh́n Những Mùa Thu Đi", "Nắng Thủy Tinh". Hầu như tất cả giáo sinh đều biết và ngâm nga những bài này. Ngoài ra Sơn cũng sáng tác một vài bài vui, ngắn để chúng tôi khi đi thực tập tại các trường dạy cho các em hát.

Tôi xin ghi lại đây một bài tượng trưng:

Ông Tiên vui

Ông Tiên vui,

Ông có cái râu dài.

Đêm ông thường ngủ yên trên đỉnh mây.

Ông Tiên vui,

   

Ông thường hay nhắc đến.

Chốn thiên đ́nh chẳng có tháng ngày vui.

Ông Tiên vui,

Ông có cái căn nhà.

Trên ngọn đồi hằng đêm Ông ghé qua.

Hôm em lên,

Ông chợt đi đâu vắng!

Lúc em về, em buồn đến ngẩn ngơ.

 

Xin nhắc lại ở đây, Qui Nhơn lúc ấy c̣n nghèo lắm. Cả thành phố có mỗi quán kem duy nhất, vừa bán kem, vừa bán cà phê, thuốc lá, bia, trà. Đó là quán Phi Điệp, nằm trên đường Phan Bội Châu, đối diện với hội trường Qui Nhơn, nơi đă tŕnh diễn văn nghệ.

Mỗi buổi chiều, chúng tôi, anh chị em nào có chút tiền c̣m th́ kéo nhau vào quán, kêu b́nh trà, ngồi nhâm nhi nghe nhạc. Khá một chút nữa th́ kêu một chai bia với tô ḅ viên gân, ngầu pín của ông Ba Tàu đậu xe trước quán. Thế là sang lắm rồi. Anh chị nào "bô xu" th́ ra biển ngồi ngắm trăng suông. Biển Qui Nhơn là biển bùn nên cát ở đó có màu vàng xỉn trông dơ dáy, không trắng như cát biển Nha Trang. Dọc theo bờ biển là một hàng dương, chạy dài từ khu quân sự đến bệnh viện Nguyễn Huệ. Trước bệnh viện là xóm chài. Bờ biển không có một lều quán hay kiosque nào. Ông Đinh Cường nói cùng Trịnh Công Sơn và Bích Khê ra đó uống cà phê ngắm trăng là nói nhầm.

 

Ba Năm Tại B'lao (Bảo Lộc, Lâm Đồng)

Sau hai năm, măn khóa, chúng tôi tốt nghiệp ra trường. Tôi và Trịnh Công Sơn cùng bốn giáo sinh khác là Lê Thị Ngọc Trinh (Huế), Nguyễn Văn Sang, Trương Khắc Nhượng, Đỗ Thị Nghiên (Nha Trang) cùng được bổ nhiệm chung một sư vụ lệnh, đáo nhậm nhiệm sở Ty Tiểu học Lâm Đồng. Sự vụ lệnh mang số 961-GD/NV/38/SVL tạm thời tuyển bổ do Ông Nguyễn Hữu Quyến, Xử Lư Thường Vụ Hiệu Trưởng Trường Sư Phạm kư ngày 14 tháng 8 năm 1964.

Sau hai năm tập sự, chúng tôi được điều chỉnh tuyển dụng bằng Nghị Định mang số 596-GD/NV/BC/QĐ do XLTV Đổng Lư Văn Pḥng, Phụ Tá Chuyên Môn, Phạm Văn Thuật kư ngày 6/5/1966.

Đến năm 1967, chúng tôi mới được chính thức bổ dụng bằng Nghị Định mang số 687/GD/NV/3B/NĐ kể từ ngày 01/9/1966 do T.U.N Ủy Viên Giáo Dục Đổng Lư Văn pḥng Huỳnh Ngọc Anh kư ngày 7/4/ 1967.

Với chỉ số lương 320 cộng thêm phụ cấp đắc đỏ vùng cao lúc bấy giờ, chúng tôi lănh được năm ngàn hai trăm đồng ($5.200) mỗi tháng, tương đương với hai lạng rưỡi vàng Kim Thành. Vật giá lại rất rẽ. Tiền ăn, ở mỗi tháng chỉ hết 600 đồng. Chai bia Con Cọp 3 đồng. Một dĩa thịt ḅ lúc lắc bốn người ăn giá 7 đồng. Tô phở 3 đồng. Cà phê loại ngon, một ly/1 đồng. Cơm bữa với ba món, 6 đồng. Thời gian từ 1964 đến 1967, chúng tôi sống sung sướng, tiêu pha rộng răi mà vẫn c̣n rủng rỉnh.

Tôi từ Nha Trang lên, theo đường Nha Trang - Đà Lạt - Bảo Lộc. Trịnh Công Sơn, từ Huế bay vào Sài G̣n, rồi từ Sài G̣n đi xe đ̣ lên Bảo Lộc.

Không hẹn mà gặp lại nhau trên bến xe vắng vẻ, thưa thớt bóng người. Lâu lâu mới thấy dăm người Thượng lầm lũi nối đuôi nhau, lặng lẽ rảo bước về một bản làng nào đó. Chúng tôi nh́n nhau, ḷng thầm nghĩ: Trời ơi! Cái thiên đường mà ḿnh tưởng tượng khi nắm trong tay tờ Sự Vụ Lệnh là đây sao? B'lao-Bảo Lộc là đây sao? Một phố quận vào chiều thứ sáu sao mà vắng lặng, buồn hiu hắt. Chuyến xe cuối cùng đổ khách xuống đây rồi lẫn mất. Ai cũng tản mác về nhà. Chỉ c̣n trơ lại Sơn và tôi, trơ trọi, cô độc. Trời lại đang mưa lâm râm, lành lạnh. Hai chúng tôi, mỗi người một va li quần áo nhẹ tênh. Lang thang t́m người hỏi đường đến Ty Tiểu Học Lâm Đồng. Lúc bấy giờ, thị xă Đà Lạt thuộc tỉnh Tuyên Đức. Lâm Đồng là một tỉnh chỉ có vỏn vẹn hai quận là Djiring (Di Linh) và B'lao (Bảo Lộc). Trước năm 1960, Ṭa Hành Chánh đặt ở Di Linh. Sau dời về Bảo Lộc được mấy năm, trước khi chúng tôi đến.

Khi chúng tôi t́m được đến Ty Tiểu Học th́ trời đă sụp tối mặc dù chưa tới sáu giờ. Sương mù bốc lên từ mặt đất, bay là là dưới chân. Ty chỉ cách bến xe non nửa cây số. May mắn, lúc ấy bác lao công đang khóa cửa chuẩn bị ra về. Khi biết chúng tôi là giáo viên mới đổi đến, bác ân cần mời chúng tôi theo bác.

- Mấy thầy cũng may! Bác nói. Chút nữa là tôi về rồi. Mai thứ bảy Ty nghỉ. Mấy thầy biết trọ nơi đâu. Đi theo tôi, tôi sẽ giới thiệu hai thầy với mấy ông giáo cũng vừa mới đổi tới đây mấy hôm trước.

Chúng tôi theo chân Bác vào ngơ Tiên Dung (gọi là ngơ Tiên Dung v́ đầu ngơ có tiệm chụp h́nh mang tên ấy). Đi sâu vào khoảng hai trăm thước, con hẽm hẹp, trơn trợt v́ cơn mưa buổi chiều, xoai xoăi lên dốc dần. Bác dừng chân trước một căn nhà mái tole, vách ván. Trong nhà vẳng ra tiếng cười nói vui nhộn của đám đông. Bác cai bước vào trước. Tiếng huyên náo im bặt. Bác ra hiệu cho chúng tôi vào nhà. Trong nhà chỉ có một chiếc giường gỗ khá rộng. Trên giường bốn mạng đang nằm, ngồi lổn nhổn. Mọi người nh́n bác cai chờ đợi. Bác đưa tay về chúng tôi rồi hướng về một anh lớn nhất trong đám giới thiệu:

- Thầy Lăng à! Mấy thầy này mới đổi tới hồi chiều. Ty đóng cửa rồi, không tŕnh diện được. Thầy giúp dùm cho mấy thẩy ở tạm qua đêm được không? Nhà tôi chật quá, không có chỗ ngủ.

Lăng tung chăn, ngồi dậy, giọng hơi cà lăm:

- Thế à! Được... được! Bác cứ về! Để... để tụi này thu xếp.

Sau khi bác cai quay lưng ra khỏi cửa, tôi với Sơn sực nhớ ra chưa nói lời nào cám ơn sự giúp đỡ của bác, bèn vội nói vói theo:

- Cám ơn bác nghe!

Không thấy tiếng trả lời. Có lẽ bác đă đi khá xa. Chợt Lăng lên tiếng:

- -i giời! Nhà bác ấy cũng gần ngay đây thôi! Sáng mai, thế nào bác ấy cũng sang đây. Các anh vào đây đă. Sao cứ đứng măi thế. Để... để cái va li vào góc này!

Chúng tôi theo lời anh đem hành lư đặt vào góc nhà. Thế rồi cả bốn người bu quanh hỏi thăm rối rít.

- Sư Phạm Qui Nhơn hả?

- Vâng!

- À, có anh Sang cũng Sư Phạm Qui Nhơn đây, mới tŕnh diện hôm kia. C̣n bọn này Sư Phạm Sài G̣n. Cũng lên trước mấy ngày thôi.

Tôi nh́n qua Sang. Cũng dân Nha Trang, nhưng tôi chưa gặp mặt lần nào tại Qui Nhơn. Sang ốm và cao như cây tre miễu. Nước da đen nhẽm. Mắt tṛn xoe, tṛng trắng nhiều hơn tṛng đen. C̣n hai người kia mới thoạt nh́n cứ tưởng là hai anh em. Cả hai đều tṛn lẵn, chắc nịch. Da mặt hồng hào, bóng lưỡng. Một anh tên là Nguyễn Đức Hinh, năy giờ chỉ đứng nh́n chúng tôi cười cười, không nói ǵ, nét mặt lộ vẽ thân thiện. C̣n anh kia là Đỗ Danh Đạo, người hoạt bát, nói năng vui vẻ. Anh giới thiệu với chúng tôi người này, người nọ bằng một giọng đặc biệt Bắc pha Sài G̣n nghe rất tếu:

- Ông này là Nguyễn Tiến Lăng, -anh chỉ tay về phía đầu giường, Lăng đang quấn mền, ngồi dựa lưng vào vách.- Lăng là thổ địa kỳ cựu sáu năm ở đây, có biệt danh là ông Trùm. Đang dạy tại trường Nam Bảo Lộc.

Có lẽ đoán được sự thắc mắc của chúng tôi qua nét mặt ngơ ngác, Đạo giải thích:

- Sở dĩ ông Lăng lên tới chức Ông Trùm là v́ ông ở đây lâu, thổ nhưỡng Lâm Đồng tặng cho ông bệnh sốt rét kinh niên. Cứ tới năm giờ chiều là ông phải trùm mền, xoa dầu Nhị Thiên Đường. Ngày nắng hay ngày mưa cũng đều đặn.

Mọi người cười rộ lên qua lời tếu của Đạo. Quay qua cặp mập và ốm ngồi cạnh nhau, Đạo tiếp:

- C̣n hai ông này là Sang và Hinh, đang làm vua một cơi tại Lạc An, cách đây bảy cây số. Một tuần về phố một lần để du hí. Tạm trú tại "am" của em và bác Lăng.

Không khí dần dần cởi mở, thân mật. Chúng tôi thấy ấm ḷng và quên ngay nỗi buồn nặng nề buổi chiều, mới cách đây có hai tiếng đồng hồ. Chợt Hinh lên tiếng:

- Này ông, ông giới thiệu người khác lung tung, sao ông không nói ǵ về ông hết?

Đạo đỏ mặt rần lên, phất tay lia lịa:

- Thôi tha cho nhà em, nhà em đâu có ǵ để mà nói!

Nhưng Hinh đâu có chịu tha:

- Hai anh nè! Hắn là Đỗ Danh Đạo, tự là Đạo Sữa. Hôm mẹ hắn dẫn hắn lên đây giao cho bác Lăng trông nom, có dặn ḍ bác Lăng nhắc chừng hắn uống đều đặn mỗi ngày ba lần sữa, sữa Guigoze chính hiệu bà Lang Trọc đấy.

Nói xong, anh chỉ cho chúng tôi thấy hai thùng sữa tổ bố nằm dưới gầm bàn.

Thoáng chốc, chúng tôi thấy gần gũi và thân t́nh như đă quen nhau tự bao giờ. Mọi người dục chúng tôi đi tắm rữa rồi dẫn đi ăn tối. Đi ngược lại hẽm Tiên Dung. Phía bên kia đường là quán ăn Ngọc Hương, nằm bên phải đầu cầu. Buổi chiều, lầm lũi theo bác cai nên chúng tôi không để ư. Cầu có tên là Cầu Đất, v́ bên dưới không có sông hay suối ǵ cả. Người ta dùng xe ủi, ủi đất lấp đầy một quăng, nối liền hai trái đồi, thành một lối đi, hai bên có thành che chắn cho khỏi ngă xuống hố, trông giống như cây cầu. Sương buổi tối đă dâng lên dầy đặc. Cả phố Bảo Lộc thắp thoáng ẩn hiện trong sương giống như cảnh tiên bồng trong xi nê. Quán ăn Ngọc Hương lập ḷe ánh điện, văng vẳng tiếng nhạc phát ra, nghe như lúc gần lúc xa. C̣n nhớ h́nh như bản "Những Bước Chân Âm Thầm". V́ lời ca, tiếng nhạc với cái khung cảnh lúc bấy giờ nó ḥa nhập vào ḷng người lần đầu tiên đặt chân lên miền cao nguyên, sơn cước... Trước mắt tôi, một cảnh trí hoàn toàn lạ lẫm, đầy huyền ăo và thơ mộng mà từ thuở nhỏ đến giờ, sống ở miền gió biển, cát trắng, sóng vỗ quanh năm, tôi chưa từng được thấy. Có chăng cũng chỉ là tưởng tượng ra những h́nh ảnh mơ hồ qua bản nhạc "Ai Lên Xứ Hoa Đào" của nhạc sĩ Hoàng Nguyên mà thôi.

Những h́nh ảnh buổi chiều đứng co ro nơi bến xe vắng ngắt bóng người, nó ảm đạm thê lương bao nhiêu, bây giờ trở thành thơ mộng, lăng mạn bấy nhiêu. Nào con đường đất đỏ quanh co lẫn khuất dần trong ngơ vắng. Nào sương mù là là bay từng đám dưới chân. Nào những con đường lên dốc, xuống dốc khiến những mái nhà trồi lên, hụp xuống theo, y như những con thuyền tṛng trành lượn theo giợn sóng xa xa ngoài biển.

Đang đói suốt một ngày đi đường, tôi và Sơn, vèo một cái, mỗi người đă ăn hết một dĩa cơm sườn nướng một cách ngon lành. Trong lúc mọi người đang nhâm nhi cà phê, nghe nhạc. Họ đă ăn từ chiều. Chúng tôi tiếp tục uống cà phê và tṛ chuyện. Sơn ít nói, chỉ ngồi nghe. Thỉnh thoảng góp vài câu gọi là. Có lẽ lần đầu c̣n giữ kẽ chăng? Ba anh: Lăng, Hinh, Đạo chốc chốc lại ngó chăm chăm vào Sơn, nửa như ṭ ṃ, nửa như quan sát. Phải chăng cái phong thái nghệ sĩ của Sơn đă gây cho người ta cái ấn tượng đầu tiên? Đối với tôi hay Sang, cái h́nh ảnh Trịnh Công Sơn, với một khuôn mặt ngăm đen, đôi mắt nhỏ mơ màng sau cặp kính cận khổ lớn, gọng đồi mồi che gần hết nửa khuôn mặt, trong hai năm học tại Qui Nhơn đă quá quen thuộc. Nhưng giờ đây, với những người bạn mới, chân chỉ hạt bột, mới rời ghế nhà trường, lần đầu tiên bước chân ra ngoài xă hội th́ h́nh ảnh một ngươi nghệ sĩ như Sơn tự nhiên với mái tóc thưa, hơi dài, cái trán hói cao, đôi kính cận to quá khổ, hàng ria mép lưa thưa, vừa như râu, vừa như lông, mănh và mịn khiến người ta thấy lạ nhưng ưa nh́n và có cảm t́nh ngay.

Gần chín giờ, mọi người dục về. Tôi và Sơn muốn nán lại chút nữa để được hưởng thêm cái hương vị ngọt ngào, đậm đà kỷ niệm của ngày đầu tiên đặt chân lên xứ Thượng. Nhưng anh Lăng cho biết, đúng chín giờ là nhà máy điện sẽ cúp.

Đêm đó, chúng tôi trăi chiếu, chăn xuống thềm nhà, năm người bạn trẻ, trừ anh Lăng nằm trên giường, tuổi sàng sàng từ hai bốn đến hai sáu, cùng nhau trao đổi những chuyện quê hương đi dần từ Sài G̣n ra đến Huế rồi thiếp vào giấc ngủ. Lúc bừng mắt dậy đă chín giờ sáng.

Sáng thứ Hai, tŕnh diện tại Ty để chờ bổ nhiệm, chúng tôi gặp hầu hết các bạn khác từ các nơi cũng đă đến từ thứ Bảy, Chủ Nhật. Sư phạm Qui Nhơn đủ mặt: Lê Thị Ngọc Trinh, Đỗ Thị Nghiên, Trương Khắc Nhượng. Sư phạm Sài G̣n: Nam có Nguyễn Hảo Tâm, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Nghị. Nữ có: các cô Nguyệt, Châu, Hải, Trang ... Sư phạm Long An chỉ có một ngoe là Ngô Thanh Bạch.

Ty Trưởng đương nhiệm là Ông Trương Cảnh Ngôn, sắp về hưu. Đỗ Thị Nghiên, Trương Khắc Nhượng, Nguyễn Hảo Tâm và tôi cùng được bổ nhiệm về trường Tân Bùi, xứ Tân Bùi, cách trung tâm Bảo Lộc chừng năm cây số. Lê Thị Ngọc Trinh bổ về trường Nữ Bảo Lộc ngay trung tâm phố. Nguyễn Văn Ba phụ chân kế toán tại Ty. Riêng Trịnh Công Sơn được "biệt nhăn" hơn bổ về một trường Sơ Cấp Thượng, ở sát nách Ty, chừng non cây số. Với chức vụ là Trưởng Giáo. (Xin chú ở đây, theo qui chế Bộ Giáo Dục bấy giờ: một trường chỉ có lớp bốn trở xuống gọi là trường Sơ cấp. Đứng đầu là Trưởng Giáo, phải dạy lớp và không có phụ cấp chức vụ 200$. Trường từ năm lớp trở lên mới được gọi là trường Tiểu học. Đứng đầu là Hiệu Trưởng có phụ cấp chức vụ, vẫn phải đứng lớp. Truờng có từ mười lớp trở lên, Hiệu Trưởng mới được miễn dạy.

Ngạch chúng tôi là Giáo Học Bổ Túc, chỉ số lương tập sự là 320, ngân sách do Bộ Quốc Gia Giáo Dục đài thọ, như đă nói ở trên.  Sau khi phân bổ xong, Ty cho chúng tôi được nghỉ một tuần để thu xếp nơi ăn chốn ở. Thứ hai tuần tới sẽ tŕnh diện nhiệm sở mới.  Khi về đến nhà, chúng tôi ḅ lăn ra cười với cái chức Trưởng giáo của Sơn. Lần đầu nghe tới chức Trưởng Giáo, ai cũng liên tưởng tới chức Trưởng Lăo Hộ Pháp trong Ma Giáo, truyện chưởng Kim Dung.

Mấy ngày thong thả, tôi và Sơn đi dạo khắp nơi để t́m nhà trọ. Thật đúng như lời của một bản nhạc "đi dăm phút đă trở về chốn cũ..." Phố Bảo Lộc nằm dọc theo quốc lộ, chỉ có một đoạn ngắn chưa đầy nửa cây số. Bắt đầu từ trường Nông Lâm Súc, chạy thoai thoải xuống dốc, đến cuối dốc là một cái hồ nước, trông giống như cái ḷng chăo là hết. Lên dốc, hai bên là những đồi trà ngút ngàn. Lâm Đồng là xứ trà. Xưa kia B'B'Lao do người Pháp khai khẩn trồng trà và chế biến trà. Họ có nhiều trang trại lớn và có cả sân bay tư nhân. Năm chúng tôi được bổ về đây th́ chỉ c̣n hai người Pháp già lấy vợ Việt Nam là c̣n ở lại. Những trại chủ khác đă bán lại cơ sở cho người Việt hoặc bỏ hoang để về nước v́ không chịu nổi Việt Cộng thu thuế.

Bảo Lộc là đọc theo âm Việt của tên Thượng là B'Lao . Năm 1954, ông Diệm đưa số người Bắc di cư lên đây khẩn hoang lập nghiệp. Họ toàn là người Công Giáo. Dẫn đầu là một cha xứ. Người xứ nào ở ngoài Bắc thuộc làng ǵ th́ lên đây qui tụ lại thành một xứ, lấy tên làng ḿnh ghép thêm chữ Tân để thành tên của xứ ḿnh. Ví dụ: làng Bùi Chu thành Tân Bùi. Theo thứ tự, hướng từ Định Quán lên cao dần, qua khỏi khu vực sông La Ngà là đèo Ma Đa Gui, ranh giới tỉnh Lâm Đồng. Quận Bảo Lộc bắt đầu từ xứ Tân Bùi. Tiếp theo là Tân Hà. Phố Bảo Lộc nằm giữa. Rồi đến Tân Thanh, Tân Phát. Xa vào tận buôn Thượng c̣n thêm Tân Rai và Tân Lú. Tôi chưa đến đó bao giờ. Chỉ đọc thấy trên bản đồ hành chánh. Mỗi xứ đạo do một cha xứ cai quản, cả phần hồn lẫn phần xác. Phụ tá có các ông trùm. Xứ có lực lượng vũ trang riêng để tự vệ an ninh và đánh trả Việt Cộng. Chung quanh xứ bảo bọc bởi hàng rào tre kiên cố. Kẻ lạ muốn vào xứ phải có người trong xứ quen và hướng dẫn. Xứ được xây dựng theo đồ h́nh bát quái. Trung tâm là nhà thờ. Dưới mỗi nhà đều có đường hầm ăn thông với đường hầm chính dẫn tới nhà thờ. Đường hầm được đào và xây dựng rất rộng răi, chắc chắn. Suốt những năm ông Diệm chấp chánh, không một tên du kích nào dám bén măng đến quấy rối. Nghe nói lúc đầu cũng có vài tên cố thâm nhập nhưng đều bị giáo dân tóm cổ tức khắc. Trong khi đó, tại trung tâm phố, khu tập trung đông đảo dân Nam, Ngăi, B́nh, Phú, Thừa Thiên theo đạo Phật đa số th́ Việt Cộng lại dễ dàng trà trộn răi truyền đơn và treo cờ. Kể từ năm 1964, khi chúng tôi dạy học tại đây, trở về sau, những chính quyền kế tiếp không chú trọng đến kế hoạch ấp chiến lược nữa, thu hồi toàn bộ vũ khí của các xứ, nên vấn đề an ninh lỏng lẽo dần.

Trở lại chuyện chúng tôi đi t́m nhà trọ. Suốt mấy ngày, Sơn và tôi lang thang khắp ngơ để t́m nhà thuê, nhưng không nơi nào vừa ư. Nhất là nhà vệ sinh th́ khiếp quá. Tất cả các nhà đều đào hố xí sau vườn. Gác ngang miệng hố là hai thanh gỗ. Che chung quanh bằng những tấm cót tre. Không có mái che. Ngày mưa phải đội nón lá mà ngồi. Nhặng xanh hằng ngàn con bay vù vù từ dưới hố lên, bu cả vào người. Ḍi bọ trắng nhởn to bằng đầu đũa, ḅ lổn nhổn khắp mặt đất. Eo ơi! C̣n những ngày nắng oi nồng, cái mùi xú uế từ dưới xông lên càng khiếp đảm.

Trong lúc loay hoay t́m nhà, có ai đó mách chúng tôi, ở về phía Ty Công Chánh có ngôi biệt thự vừa xây xong, chủ nhà muốn cho thuê nhưng hơi đắt. Sơn và tôi đến ngay. Nhà rất đẹp, tọa lạc trên một khu quang đăng, thoáng tầm nh́n. Chung quanh hàng rào bao bọc, phía trước có cổng. Nhà có ba pḥng ngủ, một pḥng khách. Nhà bếp rộng chia làm hai, một nửa là bếp, một nửa là pḥng tắm và vệ sinh. Chủ nhà là một người đàn bà tuổi trạc độ ba mươi, người mănh dẽ. Bà hiện là Trưởng Pḥng Kế Toán của Ty Công Chánh Lâm Đồng. Bà sống với đứa con gái nhỏ sáu tuổi tên Đào. Chồng bà đang làm việc ở Sàig̣n, bà cho biết. Sau khi nói chuyện độ dăm phút, chúng tôi bằng ḷng thuê toàn bộ căn nhà, trừ một pḥng cho bà và đứa con gái để ở, với giá 1.200 đồng. Nếu muốn ăn cơm tháng th́ bà nấu luôn cho. Ngày ba bữa, mỗi người trả thêm ba trăm đồng. Chúng tôi ra về với ḷng thơ thới v́ đă t́m được nơi ăn ở vừa ư. Trên đường về Sơn cứ lẩm bẩm: Đàn bà mà tên Phi lại lót Thị, Thị Phi... Thị Phi!

Sơn tủm tỉm cười một ḿnh. Tôi biết Sơn đang nghĩ ǵ về bà chủ nhà trẻ, sống một ḿnh.

Chúng tôi rủ thêm hai người bạn nữa để chia bớt pḥng và chia bớt tiền. Hai anh Nguyễn Hảo Tâm và Nguyễn Văn Ba đến xem nhà và đồng ư ngay. Sơn và tôi có công t́m nhà, nên được ưu tiên ở căn pḥng trước, có cửa sổ quay ra mặt đường. Tâm và Ba ở căn kế. Bà chủ nhà căn trong cùng. Ba pḥng ăn thông ra pḥng khách. Pḥng khách có cửa hông thông với nhà bếp. Từ lúc chúng tôi về ở, trừ những lúc dọn cơm cho chúng tôi hay những lúc đi làm chạm mặt ở pḥng khách, bà chủ cùng đứa con gái đóng cửa im ỉm, nói chuyện rầm ŕ ở trong buồng, ít khi ló mặt ra ngoài. Mấy tháng sau, bà thuê được một cô người làm. Cô này độ chừng hơn hai mươi, có da thịt, tính t́nh hiền hậu, hơi quê mùa nhưng dễ thương. Cô giúp bà chủ đi chợ nấu ăn cho chúng tôi. Cô ngủ ở nhà bếp.

Nhớ lại một mẫu chuyện vui. Có lần bà chủ nghỉ phép nửa tháng về Sài G̣n với gia đ́nh, bà yêu cầu chúng tôi t́m chỗ ăn tạm trong thời gian này. (lúc đó chưa có cô giúp việc) Bốn chúng tôi thay phiên nhau đi chợ nấu ăn mỗi người một ngày. Sở dĩ chúng tôi không đi ăn tiệm là v́ hai lư do. Thứ nhất là làm biếng đi xa. Từ nhà đến tiệm ăn xa hơn đến chợ. Thứ hai, có cơ hội để thử ḿnh có khả năng tự lực cánh sinh hay không? Đầu tiên, tôi xung phong trước. Bữa ăn có cá chiên dầm mắm tỏi ớt, chắm với dưa leo, rau sống, xà lách. Hội đồng chấm điểm: Tạm được! Ngày thứ hai, Nguyễn Văn Ba. Thịt ba chỉ kho hột vịt ăn với dưa cải và cà pháo muối mặn. Điểm: Khá. Đêm đó chúng tôi lục đục thức dậy uống nước và đi tiểu suốt. Nguyễn Hảo Tâm người Sài G̣n, giả giọng Bắc của Ba, ngâm ư ử chọc Văn Ba:

Em ơi! Mở cửa cho anh ra!

Kẻo anh chết khát trong vại cà nhà em!

Ngày thứ ba, Hảo Tâm vác chiếc bụng phệ đi chợ. Vậy mà thoáng cái đă về, xăn tay áo vào bếp. Trưa hôm đó chúng tôi được thưởng thức món hột vịt luộc, dầm x́ dầu ớt chanh, chấm với giá chua, rau sống. Sơn rên rỉ : Chắc cái rô bi nê nước của bà chủ nhà đêm nay hư quá! Văn Ba được dịp trả thù câu chọc tối qua của Hảo Tâm:

- Này ông Tâm! Cái câu "Kẻo anh chết khát trong hủ giá chua nhà em" tối nay đọc nghe trúc trắc quá, ông ráng sửa lại nghe cho êm tai nhá!

Tâm cười giả lả:

- Nè... nè tráng miệng với chuối bồ hương đi! Ngon lắm đó.

Ngày thứ tư đến lượt Sơn. Anh rũ tôi đi cho có bạn. Hóa ra anh chàng mắc cỡ. Anh thủ sẵn trong túi hồi nào không hay một cái bao bằng giấy xi măng. Miệng ngậm ống vố ph́ phèo, tay chắp sau đít, anh lững thững vào chợ như người đi dạo cảnh. Tôi theo sau không ư kiến, mắt đảo quanh đám người Thượng, xem họ mua bán đổi chác những thổ sản mang từ trên núi xuống. Nhiều nhất là phong lan. Nhưng chỉ là những loại thường như hoàng lan, hoàng điệp, hàm rồng, long tu, địa lan... Mấy thứ này rẽ tiền. Chỉ năm, mười đồng một nhánh. Tháng đầu tôi ham, mua về treo đầy trong pḥng. Song nó cứ rũ ra, chết dần. Có người bày cách, phải treo nó ngoài trời cho có đủ sương và nắng gió nó mới sống. Tôi làm theo. Nhưng mấy chục nhánh cũng lần lượt héo sầu, đổi sang màu vàng rồi chết khô. Có lẽ nó nhớ bạn, nhớ rừng chăng?

Sơn xăm xăm đi tới hàng đồ khô, gia vị và nói với bà bán hàng:

- Bà cho tôi một chục trứng gà, một ít củ hành và tỏi. Tính hết bao nhiêu?

Bà bán hàng nói giá tiền và hỏi lại:

- Cậu có cái ǵ đựng không? Đi chợ mà đi hai tay không vậy?

Sơn nhanh nhẹn rút trong túi quần ra cái bị giấy xi măng đưa cho bà bán hàng và nói:

- Bà bỏ hết vô đây là được rồi.

Trả tiền xong, Sơn quành qua hàng thịt mua một miếng thịt ba chỉ. Trở lại hàng rau mua thêm mấy trái cà chua.

- Xong! Ông thấy tôi có nghề không? Sơn hỏi tôi mà không cần câu trả lời.

Vừa về đến nhà đă thấy hai chàng Tâm và Ba chờ sẵn.

- Nào! Bữa nay coi anh chàng nhạc sĩ của ḿnh nấu nướng ra làm sao!

Sơn cười h́ h́:

- Được rồi! Mấy ông vô hết trong này coi tôi trổ tài nghe.

Sơn vào bếp chỉ huy ba chúng tôi, người này lột vỏ hành, tỏi, người kia rửa cà, thái lát mỏng, người nọ cắt thịt ba chỉ thành sợi như chiếc đũa. Chúng tôi làm theo răm rắp. Mọi việc đâu vào đấy. Và giục Sơn ra tay v́ trời đă khá trưa rồi. Sơn bắt đầu đổ dầu chiên vào chăo. Trong khi chờ đợi dầu nóng, Sơn giảng giải cách làm các món:

- Các ông sẽ được thưởng thức món hột gà "ốp la" và hột gà đổ chả nghe! (Sơn thường đệm tiếng "nghe" ở cuối câu rất nhẹ và rất dễ thương) Phải đợi dầu thật nóng, bốc khói, rồi khử dầu bằng vài tép tỏi đập dập cho thơm-Sơn nói tiếp:

- Bây giờ mấy ông coi nghe!

Sơn cầm lấy một trứng gà bằng hai tay, vừa làm vừa giảng tiếp:

- Ḿnh phải cầm trứng bằng tám ngón tay như thế này, từ ngón trỏ đến ngón út, hai ngón tay cái bấm vào trứng để bóp quả trứng. Nè! Chú ư nè!

Chúng tôi ngó theo bàn tay Sơn, những ngón tay thuôn dài đang ôm lấy quả trứng. Những ngón tay khô, xương và da. Phải cho có thêm một ít thịt th́ bàn tay Sơn chắc đẹp không thua ǵ bàn tay con gái. Sơn bóp mạnh hai ngón tay. Ḷng trắng, ḷng đỏ trứng gà thay v́ lọt vào chăo, lại vọt xuống đất đánh "bạch" một tiếng. Một trứng đi đời. Sơn bào chữa:

- Tại tôi bóp mạnh quá!

Chúng tôi khuyến khích:

- Làm lại! Làm lại!

Sơn làm thêm hai lần nữa, t́nh trạng vẫn y như cũ. Một đống trứng nhầy nhụa dưới chân. Ba la lên:

- Thôi! Thôi! Ông Sơn ơi, làm ơn tránh ra cho chúng tôi làm. Mà ông có biết làm không th́ bảo?

Sơn nói:

- Hồi nhỏ tôi thấy má tôi làm như vậy mà!

Tâm hỏi lại:

- Mà ông đă làm thử lần nào chưa?

- Chưa!

- Vậy mà cũng bày!

Tôi chọc quê Sơn bằng cách hát nhại "Dă Tràng Ca": "Thôi! C̣n ǵ nữa đâu! C̣n ǵ nữa đâu! Mà không ăn rau..."

Sơn nổi cáu, x́ nẹt:

- Thôi cha! Cha sửa lời làm hư hết bản nhạc của tôi đó cha.

Sau đó chúng tôi đập hết những trứng c̣n lại vào trong một cái tô lớn. Trộn thêm đường, hành củ, cà chua, thịt ba chỉ, tiêu, x́ dầu đánh đều lên thành một món hổ lốn, đổ vào chảo thành hai lượt cho mau chín và không bị cháy phía dưới. Không ngờ bữa cơm ấy lại vui và ngon ra phết. Ai nấy vừa ăn vừa nhắc lại cảnh Sơn bóp trứng mà cười. Dứt bữa ăn, Sơn trịnh trọng đứng lên tuyên bố:

- Bắt đầu chiều nay đi ăn cơm tiệm!

Không ngờ cái lệnh vô t́nh ấy lại hợp cả cho chúng tôi. Không ai bảo ai, cả ba chúng tôi đồng thanh vừa cười, vừa hô to:

- Ăn cơm tiệm! Đă đảo đi chợ!

Những ngày chúng tôi sống chung với nhau trong "ngôi biệt thự" của bà Trần Thị Phi thật là vui nhộn. Cũng chính trong căn pḥng có khung cửa sổ ngó ra con đường đất đỏ của căn nhà này, Trịnh Công Sơn đă sáng tác các nhạc phẩm để đời: "Chiều Một Ḿnh Qua Phố", "Lời Buồn Thánh", "Vết Lăn Trầm"- và "Ca Khúc Da Vàng." 

Ngày Lănh Lương Đầu Đời

Mới ngày nào vừa tŕnh diện để nhận nhiệm sở, thoáng cái đă đến cuối tháng lănh lương. Ngày lănh lương đầu tiên trong đời, chúng tôi ai nấy đều háo hức đến Ty thật sớm để được kư tên vào sổ lương. Tôi kư tên và nghĩ đến một món tiền lớn do chính tay ḿnh làm ra. Món tiền mà từ xưa tới nay, tôi chưa hề được cầm trong tay. Hai năm trọ học ở Qui Nhơn, cha mẹ tôi phải khó nhọc lắm mới chắt chiu được sáu trăm đồng hàng tháng gửi cho tôi chi tiêu. Có tháng chậm tới ngày thứ mười mà tôi vẫn không dám viết thư dục v́ tôi hiểu rơ hoàn cảnh của tôi: Con nhà nghèo.

Trong khi chúng tôi nôn nao chờ đợi được gọi tên vào pḥng kế toán để lănh tiền th́ anh Thành, phát ngân viên, cứ đủng đỉnh hút thuốc lào. Tiếng kêu rít rít của cái nỏ cầy càng thêm sốt ruột. Lại thêm mấy ngụm trà Tàu khề khà nữa chứ.

Tiếng Nguyễn Đức Tín, giáo viên trường Cộng Đồng Thượng, một tay lâu năm trong nghề, rất hoạt kê và lém lĩnh vang lên:

- Bố Thành ơi! Ra tay làm phúc cho chúng em nhờ tí! Cả tháng nay chưa có hột cơm nào trong bụng cả. Hôm nay em về trễ, có mà vào nhà bằng đít.

Giai thoại về anh chàng Tín này rất nhiều. Chuyện nào cũng cười vỡ bụng. Có dịp sẽ kể. Khi mọi người đă cầm trong tay cái phong b́ dày cộm có ghi tên ḿnh, Tín tḥng thêm một câu chót trước khi ra khỏi cửa Ty:

- Này bố Thành! Em bảo nhé! Cứ thuốc lào nhiều vào! Hai cái má hóp như hai cái hố ấy. Người cứ quắt như cái tăm, bà Thành không cho tí chút th́ đừng bảo Tín này không nói trước nhá!

Nói xong, Tín cười hềnh hệch. Ra khỏi Ty, Sơn săi chân đi thật lẹ. Sơn cao, chân dài. Tôi thấp, chân ngắn, nên phải nhảy ba bước một mới kịp. Vừa thở, vừa kêu:

- Ông Sơn! Về nhà chớ đi đâu mà ông đi như ma đuổi vậy! Từ từ chờ tôi với chứ!

Sơn không đáp cứ cắm đầu đi thẳng. Vừa vào pḥng, Sơn khóa trái cửa lại. Tôi nhạc nhiên chờ xem anh chàng làm cái ǵ đây. Sơn để nguyên quần áo, giày vớ, nằm vật ngữa ra đi văng, tay rút trong túi quần ra cái pḥng b́ tiền lương lúc năy, xé phong b́, nắm hết xấp tiền 5.200 đồng, gồm giấy năm đồng, mười đồng, năm chục đồng tung lên trên trần nhà. Giấy bạc mới tinh, phát ngân viên Thành vừa lănh từ Kho bạc ra, rơi lả tả xuống người Sơn, rơi xuống đi-văng. Sơn hốt lên, tung trở lại. Sơn cười sằng sặc. Sơn cười ha hả. Tiếng cười nghe là lạ. Nó pha lẫn niềm vui và nỗi phẫn hận. Rồi Sơn chửi thề:

- Đù mạ mi! Đù mạ mi! Tiền! Tiền!

Đó là lần đầu tiên tôi nghe Sơn chửi thề. Và cũng là lần duy nhất suốt ba năm sống chung với nhau.

Tôi để mặc Sơn được tự do trong những giây phút ấy. Tôi không muốn gây một tiếng động nào để quấy rầy Sơn đang đắm ch́m trong thế giới riêng của ḿnh.

Tôi yên lặng đếm tiền của ḿnh một cách chậm răi. Từng tờ, từng tờ. Tôi để cho mười đầu ngón tay của ḿnh cảm nhận hoàn toàn cái cảm giác đê mê, sung sướng đang run lên từng chặp với những tiếng kêu sột soạt của những tờ bạc mới tinh nguyên chạm vào nhau. Cái âm thanh nghe sao mà hấp dẫn. Cái mùi giấy bạc mới sao mà quyến rũ thế! Đầu tôi phác hoạ ra một chương tŕnh mau lẹ: Hăy trích ra ba ngàn đồng, ra ngay Bưu điện mua một cái "măng đa" gửi liền về cho Má để Má mừng. Chắc Má sẽ vui lắm khi nhận được tiền do thằng con gửi về. Thằng con do bà nuôi nấng, chắt chiu, dành dụm từng đồng, từng cắc của gánh hàng đè nặng lên vai bà ngày ngày, cho con ăn học. Hôm nay có lẽ bà sẽ sung sướng và hănh diện âm thầm, không tỏ lộ cùng ai: Con bà đă trở thành ông giáo!

Chiều hôm đó tất cả chúng tôi không ăn cơm nhà. Phải tự khao cho ḿnh một chầu linh đ́nh mới được. Tại nhà hàng Ngọc Hương (bây giờ ông bà chủ quen mặt chúng tôi quá rồi) có mặt đông đủ các ông giáo trẻ vừa mới có được một thành tích: "Một tháng công vụ" Chúng tôi uống bia. Tín gọi nhà hàng ơi ới:

- Này ông bà chủ! Cho một két bia "ông Tây Cà lồ" nhé! Bia thật lạnh đấy!

Bia "ông Tây Cà lồ" mà Tín gọi là bia Con Cọp, loại chai lớn. Tín có những từ ngữ thật đặc biệt để gọi các vật hay những việc nghe rất buồn cười. Có lần anh ta mời Sơn và tôi đến nhà chơi. Anh ta nói oang oang giữa đám đông đang bù khú:

- Này! Xin thưa với các cụ! Hôm nay em xin phép các cụ cho em "rước" hai ông anh này đến "am" em chơi, làm mấy "ve". Xin các cụ đừng "à uôm" ǵ cả nhớ!

Đêm đó chúng tôi ăn uống tưng bừng. Cười nói hả hê. Chín giờ, điện cúp. Chúng tôi ra về, bá vai nhau đi khệnh khạng, xiên xẹo giữa phố vắng, dày đặc sương mù. Đến cuối dốc cầu, xếp hàng ngang, vạch quần, vừa đi, vừa tè, vẽ thành rồng rắn, loang lỗ trên mặt đường nhựa.

Ôi một thời tuổi trẻ vô tư, hồn nhiên!

 

Một Thầy, Một Cô, Một Con Chó Cái!

Tôi không h́nh dung được lúc ông Cao bá Quát làm giáo thụ ở Quốc Oai cái cảnh nó ra làm sao, mà ông tả oán bằng những câu thê thảm: 

Một thầy, một cô, một chó cái,

Học tṛ dăm đứa, nửa người,

nửa ngợm, nửa đười ươi!

Nhưng cái cảnh ông trưởng giáo Sơn ngồi dạy học ở ngôi trường Sơ cấp Thượng th́ thật bi hài. Mỗi buổi sáng, cái hoạt cảnh ông đi dạy đă là buồn cười rồi. Tôi và Sơn có điểm giống nhau là không thích đeo đồng hồ. Tôi dạy buổi chiều nên tha hồ nằm nướng trên giường. Sơn dạy buổi sáng, phải dạy sớm lúc bảy giờ để đến trường. Những ngày có mặt trời th́ nh́n bóng nắng, độ giờ mà đi.

Những ngày sương mù hay mưa dầm th́ lắng nghe tiếng kèn đồng chào cờ của một đồn lính nào đó, rất xa vọng lại văng vẵng. Te te... ṭ tí te... ṭ tí te... là Sơn xỏ vội chiếc áo sơ mi ka ki vàng cụt tay, (Chiếc áo này tôi thấy từ lúc c̣n ở trường Sư phạm) đôi giầy Ba-Ta màu nâu. Nách kẹp cuốn vở soạn bài cuộn tṛn, miệng ngậm ống vố, chân sải bương bă đến trường. Trường không xa lắm. Cách nhà non nửa cây số. Sơn lội bộ hàng ngày trên con đường đất đỏ, càng lúc càng lên dốc. Ngày nắng th́ bụi đỏ mù trời. Ngày mưa đất nhăo, nhèm nhẹp. Đi một lúc th́ phải t́m một khúc cây hay ḥn đá bên đường để gạt bớt lớp đất nhăo dính vào đế giày càng lúc càng nặng. (Quảng đường này ông Trịnh Cung tưởng tượng ra dài đến mấy cây số, Sơn phải g̣ lưng đạp xe đạp đến trường). Có hôm, Sơn ngồi chờ măi vẫn không nghe thấy tiếng kèn đồng giục giă ṭ te, tí te, cứ ôm đàn t́m nốt nhạc. Đến khi sương tan, mặt trời ló ra th́ đă trưa rồi. Ba chân bốn cẳng, Sơn phóng như ngựa phi đến trường. Nửa giờ sau, thấy anh ta đủng đỉnh ra về. Tôi hỏi:

- Ủa! Không dạy à?

- Học tṛ đâu mà dạy? Sơn trả lời tỉnh khô. Tôi vẫn chưa hết thắc mắc:

- Vậy th́ chúng nó không đi học à?

- Không biết! Nhưng có lẽ chúng nó thấy không có thầy nên tự động ra về. Tôi đoán vậy.

- Nè ông Sơn! Trường ông sát nách Ty. Coi chừng Thanh tra Lương đi kiểm soát bất tử th́ chết không kịp ngáp đó nghe! Tôi nhắc chừng. Sơn vẫn nói cứng:

- A! Tôi đâu có cho phép. Chúng nó tự động về là lỗi của chúng. Đâu phải lỗi tại tôi.

Đến nước này th́ tôi chào thua, hết căi.

Một hôm, tôi bỗng nảy ư định đến xem ngôi trường của ông trưởng giáo Sơn nó ra làm sao.

Leo hết con dốc ngắn, ngôi trường hiện ra trên một khoảng đất trống. Xung quanh trơ trọi, không một cây cối ǵ cả. Trường được ngăn &